Sau sinh nhật của Ngu Thanh Lăng, đã sang cuối tháng chín. Thâm thu trên núi Bạch Lộ ngày một lạnh hơn, sớm tối khắp núi cây cỏ vàng úa đều phủ sương trắng.
Chiều hôm ấy, sau khi trốn buổi học văn biền, Khương Ly cầm hộp gấm, lén đến học xá của Bùi Yến.
Hơn tháng nay, vết roi trên người hắn đã lành dần. Có được sự cho phép của hắn, nàng ra vào dược phòng thư viện, cách ba năm ngày lại chế một hộp thuốc cao đưa đến. Vết thương trên người hắn đa phần đã khỏi, nhưng vì nơi này người đông tai mắt nhiều, lại thêm chuyện hắn bị chính mẫu thân – Cao Dương quận chúa – đánh roi, tuyệt đối không thể để ai biết, nên lần nào nàng cũng lặng lẽ đưa thuốc.
Đi trên con đường nhỏ trong viện, Khương Ly vừa nghĩ vừa thấy khó hiểu: có đứa con như Bùi Yến, sao Cao Dương quận chúa lại nỡ đánh đến vậy? Năm đầu tiên nàng bắt gặp, hắn mới mười một tuổi. Giờ hắn đã mười lăm, bốn năm trôi qua, người người đều biết thế tử phủ Bùi Quốc công được hoàng đế sủng trọng, danh vang Trường An, còn điều gì khiến mẫu thân hắn không hài lòng?
Nghĩ tới đó, lòng nàng càng thêm thương xót. Dù trong dạ nặng nề, bước chân lại nhẹ nhõm. Bùi Yến ưa tĩnh, nên Sơn trưởng xếp cho hắn một tiểu viện riêng ở góc tây bắc thư viện, xa cách người khác. Hắn cũng không mang tùy tùng. Càng tới gần chỗ hắn, nàng càng cảm thấy an toàn. Không một tiên sinh nào dám đến chỗ hắn tuần tra.
Buổi tối nay là giờ học văn biền của Tống phu tử, vốn là thứ nàng ghét nhất. Đến lúc thầy điểm danh, chỉ cần A Từ và Tử Đồng nói “lại bị thế tử gọi đi chịu phạt”, ắt thầy sẽ hiểu ngay, chẳng hỏi thêm.
Khương Ly nhìn hộp gấm trong tay, ánh mắt sáng rỡ, bước chân càng nhẹ. Nàng suýt nữa thì ngân nga một khúc tiểu điệu Trường An. Nhưng đến ngoài viện Bùi Yến, lại thấy trong phòng tối om, không có lấy một tiếng động.
Nàng đứng khựng lại, rồi bỗng nghe tiếng gió rì rào phía sau núi.
Đi vào rừng trúc tím sau núi, nàng không khỏi hít mạnh một hơi—
Giữa lúc hoàng hôn chưa hẳn tắt, gió núi gào rít, biển trúc ngả sóng. Trong bóng rừng u ám, Bùi Yến mặc áo trắng, kiếm vung như điện, thân nhẹ như gió. Kiếm quang tung hoành, cuốn đầy lá khô, theo từng chiêu thế mạnh mẽ như núi lở biển dậy, khiến rừng trúc dậy sóng ngợp trời.
Khương Ly bụng chữ nghĩa chẳng nhiều, nhưng chợt nhớ tới “Vũ Hạc phú” mà Cảnh Đức đế ban cho Bùi Yến làm tự. Sau nàng có đọc, tuy chưa từng thấy hạc múa, nhưng cảnh tượng này há chẳng hợp từng lời trong văn chương hoa lệ kia?
“… liên loan phượng khiêu, uyển chuyển long dược; trập trùng bồi hồi, chấn tấn đằng thùy; kinh thân bồng tập, kiều sí tuyết phi…”
Nàng ngây ngẩn nghĩ, phàm ai chứng kiến cảnh này, hẳn đều “tán hồn nhi đãng mục, mê bất tri kỳ sở chi” (hồn tán mắt mờ, chẳng biết mình ở đâu).
Đến khi hắn thu kiếm, mồ hôi tuôn như mưa, tóc đen ướt dính bên cổ. Đây là bộ dạng chưa từng thấy—một Bùi Yến không hề chỉnh tề. Khương Ly còn đang thất thần, hắn đã bước đến, ánh mắt u uẩn, khiến tim nàng đập thình thịch, vô cớ cúi đầu né tránh.
“Lại mượn danh ta để trốn học?” Bùi Yến y phục xộc xệch, sắc mặt mệt nhọc, nhưng vừa mở miệng vẫn là dáng vẻ lạnh nhạt, băng tuyết nghiêm trang.
Khương Ly bĩu môi, nghĩ thầm: đúng là “Bùi phu tử”. Rồi lại cung kính đưa hộp gấm:
“Thế tử, đây là thang thuốc cuối.”
Bùi Yến giảng bài thay Sơn trưởng, nhưng không cho ai gọi mình là phu tử, tiên sinh. Chỉ riêng Khương Ly hay lén gọi “Bùi phu tử” để trêu, rằng hắn nghiêm khắc, cứng nhắc, già dặn, nhàm chán!
Hắn liếc nàng, nhận lấy hộp. Hộp nhỏ nắm gọn trong tay, ngón tay hắn vô tình lướt qua lưng tay nàng, để lại cảm giác nóng ẩm. Lòng Khương Ly bỗng chột dạ, vội giấu tay, chà mạnh lên váy, rồi cười xòa:
“Tối nay là lớp của Tống phu tử, chẳng thú bằng Cửu chương với Ngũ Tào.”
Hai quyển ấy là sách toán mà Bùi Yến mới dạy. Nàng nói thật, nhưng hắn lại nhướn mày, ngờ rằng nàng nịnh hót.
Song rồi mày hắn dịu đi:
“Tống phu tử giỏi đối ngẫu điển cố, văn biền chương biến hóa phong phú. Không chịu nghe kỹ, đương nhiên thấy vô vị.” Ngừng một chút, hắn nói tiếp:
“Học văn cũng như học y, không nên thiên lệch.”
Khương Ly tay ngoan ngoãn giấu sau lưng, đầu hơi cúi, vẻ ngoan hiền lắng nghe, kỳ thực bụng thầm cãi—khác nhau một trời một vực!
“Thế tử nói phải…”
Miệng thì ừ, lòng thì chẳng phục. Thấy hắn im, nàng liền chỉ hộp gấm:
“Lần này có thêm bạch chỉ và nhục quế thông kinh lạc, hành khí huyết; đương quy, tam thất hoạt huyết tiêu ứ, tiêu thũng chỉ thống; huyền sâm, xích thược thì thanh nhiệt giải độc, lương huyết sinh cơ. Thế tử sáng tối bôi, liên tục bảy ngày, sẽ khỏi hẳn.”
Bùi Yến gật đầu:
“Đa tạ.”
Khương Ly liếc hắn:
“Đáng lắm, thế tử từng tha cho ta một lần.”
Nói rồi, nàng bỗng lúng túng, lấy ra một bọc vải từ ngực. Vừa mở ra, hương ngọt lan tỏa. Ánh mắt Bùi Yến lóe sáng, nhưng lại nhanh chóng nghiêm nghị.
Khương Ly cau mặt, khó xử:
“Thế tử, đây là phô mai anh đào của phủ ta…”
Trong thư viện, hắn chưa từng thiếu lễ vật. Học trò đến được đây đều con nhà quyền quý. Nữ sinh thì hay lén để quà ngoài cửa sổ, ngay cả công tử cũng dâng tặng. Khương Ly từng chứng kiến không ít, còn chê cười hết lời. Ai ngờ, nay chính nàng cũng mang điểm tâm đến! Nếu bị Ngu Tử Đồng trông thấy, thể nào cũng bị chọc ghẹo.
Nàng ngượng ngập, hắn thì ngạc nhiên. Khương Ly tính tình quái lạ, xưa nay khinh thường nịnh bợ. Tháng trước là ngoại lệ, nhân sinh nhật Ngu Thanh Lăng.
Bùi Yến siết chặt hộp thuốc:
“Chỉ e… không hợp quy.”
“Thế tử quả nhiên không muốn!”
Khương Ly ngẩng đầu:
“Ta đã nói với sư phụ, thế tử chẳng nhận lễ vật học trò. Nhưng sư phụ lại bảo đây là phúc bánh sinh nhật, còn nhờ sư tăng ở Tướng Quốc tự khai quang, dặn nhất định phải mang đến cho thế tử, cảm tạ sự chỉ bảo đối với ta và ca ca…”
“Thế thì coi như ta đã chuyển ý sư phụ. Thế tử yên tâm, bánh ta sẽ không phí đâu—”
Bùi Yến chưa từng gặp ai như nàng: lúc muốn nịnh thì lanh lẹ tinh quái, lúc chẳng muốn thì không thèm nghe hết câu.
Đêm xuống, mây che trăng, ánh sáng mờ mịt. Khương Ly không rõ sắc mặt hắn, thấy hắn im lặng, liền ôm bọc vải, lùi lại:
“Vậy ta không làm phiền nữa.”
Nàng còn như nóng ruột muốn quay về ăn điểm tâm. Vừa xoay người, chợt nghe phía sau trúc lay xào xạc. Ngoảnh đầu lại, thấy Bùi Yến khom lưng chống lấy thân trúc bên cạnh, sắc mặt như mang đau đớn.
Khương Ly thất kinh:
“Thế tử—”
Nàng do dự bước lên, đến gần mới thấy hắn mặt mày trắng bệch. Nàng giật mình:
“Thế tử bị thương rồi sao?”
Nàng vội nhét bọc vải về ngực áo, muốn đưa tay đỡ, lại chẳng dám chạm, tay chân rối loạn. Đến khi Bùi Yến liếc sang, nàng liền lùi một bước, đứng nghiêm:
“Có cần ta gọi người đến không?”
Bùi Yến gắng gượng đứng thẳng, thở dốc:
“Ngươi có biết trị nội thương chăng?”
Khương Ly sững lại:
“Là nội thương ư? Ta chưa từng chữa qua loại bệnh nhân này… Thế tử… chẳng bằng trở về Trường An.”
Hắn trầm mặc chốc lát:
“Không thể để mẫu thân ta biết.”
Khương Ly nghĩ đến roi vọt trong tay Cao Dương quận chúa, tim thắt lại. Nàng do dự một lúc rồi đáp:
“Ta… có thể thử, nhưng chẳng dám hứa hiệu quả.”
Bùi Yến cúi mắt:
“Có thể tiếp tục luyện kiếm là đủ.”
Khương Ly không hiểu:
“Thế tử đã thụ thương, cớ sao chẳng nghỉ ngơi dăm ba tháng? Ta tuy không biết võ công, cũng hiểu nội thương mà còn gắng luyện là đại kỵ. Huống chi y thuật của ta chưa tinh, đâu dám chắc có tác dụng.”
“Sau hai tháng, ta phải về sư môn dự Đại hội tỷ võ, chẳng thể nghỉ.”
Bùi Yến thẳng thắn nói. Khương Ly lúc này mới nhớ, ba năm trước Cảnh Đức đế tại yến cung từng hạ chỉ: bắt buộc hắn phải đoạt quán quân trước mười tám tuổi. Đêm ấy, Cao Dương quận chúa đã đáp ứng thẳng thừng. Nay hắn vừa tròn mười sáu, thời gian còn lại đã chẳng nhiều.
Nàng càng thêm thương cảm:
“Được, vậy để ta thử.”
Nói xong, mắt nàng xoay động:
“Nếu ta chữa được thương thế, thì kỳ khảo luật học tháng sau…”
“Không thể.” Bùi Yến dứt khoát cắt ngang.
Khương Ly lập tức nhíu mày thành chữ “川”. Hắn liếc nàng một cái, nói:
“Ngươi giúp ta trị thương, đợi ta trở về từ đại hội, có lẽ sẽ có cách giúp ngươi chữa bệnh cho Ngụy Dương.”
…
Ý nghĩ chập chờn, Khương Ly bừng tỉnh thì xe ngựa đã dừng trước cổng Tạ phủ. Nàng quấn chặt áo choàng, vào trong. Vừa về đến Doanh Nguyệt Lâu, nàng lập tức lấy rượu thuốc cho Hoài Tịch xoa ứ. Thấy nàng bị thương, Tường Tường và Như Ý hoảng hốt.
Tường Tường nói:
“Trễ thế này chưa về, lão gia đã phái người hỏi hai lần, cứ tưởng tiểu thư lại vì chữa bệnh mà bị giữ lại. Sao giờ còn mang thương tích?”
Hoài Tịch mỉm cười:
“Nhị vị tỷ tỷ chớ lo, chỉ là vết thương nhỏ. Tên giặc kia thảm hơn ta gấp trăm lần.”
Tường Tường và Như Ý nhìn nhau, nghe vậy vẫn còn sợ hãi. Khương Ly khi ấy nói:
“Qua Liễu Đình viện hỏi xem, ngày mai có thể thỉnh an phu nhân được không.”
Tường Tường vâng lời, chẳng bao lâu quay lại:
protected text
Khương Ly gật đầu, dặn họ nghỉ ngơi.
Đợi nàng cùng Hoài Tịch tắm rửa thay y phục, đã gần canh tư. Hoài Tịch hỏi:
“Cô nương sao lại muốn gặp phu nhân?”
Từ khi về phủ, Khương Ly chỉ ra mắt Giản Hiền ngày đầu. Lẽ ra nàng y thuật tinh thông, nên lập tức chẩn trị. Nhưng bệnh của Giản Hiền kỳ quái lạ thường, ngay cả nàng cũng chưa có cách.
Ngày trước ở Trường An, phủ Quảng An bá và Tiết thị ít giao tiếp với Khương Ly. Nàng cùng họ nhiều lắm cũng chỉ gặp mặt trong yến tiệc, ngoài ấn tượng sâu với Tiết Lan Thời, còn lại chẳng biết bao nhiêu. Lúc ấy, vì Tiết Linh mất tích nhiều năm, Tiết thị gần như đã bỏ cuộc, nàng thậm chí chẳng từng nghe chuyện đại tiểu thư bị bắt cóc. Bệnh của Giản Hiền lại càng ít người nhắc đến. Nay nàng mang thân phận giả, nhưng với Giản Hiền, nàng muốn dốc lòng.
Khương Ly nói:
“Bệnh của phu nhân có nhiều chỗ giống bệnh của ca ca, ta muốn thử thêm vài lần.”
Hoài Tịch thương xót:
“Cô nương lại tự trách.”
Khương Ly lắc đầu:
“Dù không vì ca ca, bệnh của phu nhân ta cũng chẳng thể khoanh tay. Chuyện năm xưa chẳng liên quan đến bà, đợi qua năm, ta không còn nhàn hạ như bây giờ nữa.”
Hoài Tịch thở dài:
“Con đường cô nương đi, quả thực chẳng dễ.”
Dù khó, nàng vẫn sẽ từng bước mà bước. Khương Ly không nói thêm, Hoài Tịch cũng đã hiểu. Rất nhanh, hai chủ tớ đều yên giấc.
Tiết phủ rộng lớn, chính viện năm dãy, hai bên đông tây ba viện, hậu hoa viên bắc bộ rừng trúc rậm rạp, sau đó còn có một viện riêng hiếm ai được vào, Giản Hiền chính là dưỡng bệnh nơi đây.
Qua lối mòn lá khô phủ tuyết, tới trước cửa viện đề ba chữ “Liễu Đình”, Hoài Tịch gõ cửa. Một lát sau, bà vú tóc bạc mở ra.
Bà tên Phương Minh, là nhũ mẫu của Giản Hiền. Từ khi nàng xuất giá đã theo về Tiết phủ. Không con không cháu, bà coi Giản Hiền như chủ tử cũng như con gái. Bao năm qua, vẫn kề cận chăm sóc.
Truyện được dịch đầy đủ tại rungtruyen.com
Ba người vào viện, thấy trong sân có ao, cầu cong, núi giả đá lạ, mang phong vị Giang Nam. Nước ao phả hơi nóng, chắc là dẫn suối khoáng ngầm. Nhờ thế, dù đêm qua có tuyết, trong sân lại chẳng chút băng giá, cây xanh hoa nở, tựa như mùa hạ. Trong ngoài viện, đúng là hai cõi trời.
Phương Minh an ủi:
“Vào đông, phu nhân thường kinh sợ. Cô nương nhớ thương, lão nô thật mừng. Hơn mười năm nay, lão nô lo không biết cô nương trôi dạt nơi nào, ngày ngày bất an. Thấy phu nhân bệnh tình tái phát, lại càng đau như dao cắt. May thay cô nương bình yên lớn khôn, còn học được y thuật lẫy lừng. Những ngày này, nhớ lại còn như giấc mộng.”
Đứa con gái bị bắt mười bảy năm nay, không những còn sống, mà lại trở thành thần y danh chấn giang hồ—quả là may mắn trong bất hạnh. Nhưng Khương Ly chỉ là kẻ mượn danh. Nhớ đến Tiết Linh thực sự, lòng nàng không khỏi thở dài.
Ba người qua cầu cong, bước lên hành lang hiên, còn cách cửa sổ vài bước, Phương Minh bỗng cất tiếng hát:
Tiếng hát khe khẽ từ trong phòng truyền ra. Giọng nữ nhân tuy khàn đục, nhưng chan chứa nhu tình. Khương Ly đứng yên, mi mắt phủ sầu. Chờ điệu hát dừng, Phương ma ma mới tiếp tục đi lên.
Cửa phòng khép chặt, ba người dừng dưới song cửa để hé.
Trong sảnh đường màn châu hoa lệ, một phụ nhân trung niên mặc váy áo ngân hồng thêu trăm hoa quấn cành đang đứng bên sạp quý phi sát cửa sổ tây—chính là Giản Hiền. Bà vừa khe khẽ ngâm nga đồng dao, vừa cúi mình bận rộn.
Chẳng mấy chốc, Giản Hiền đứng thẳng, lộ ra thứ nằm trên sạp—
Đó là một búp bê nhân ngẫu cực tinh xảo, cao chẳng đến hai thước, đúng bằng thân hình hài tử hai ba tuổi. Giản Hiền đang thay cho nó một chiếc áo váy đào hồng thêu cá chép vờn nước. Búp bê kia mày rậm mắt to, nhưng chỉ là vật chết vô tri. Thế mà gương mặt Giản Hiền lại đầy dịu dàng yêu thương, càng khiến khung cảnh thêm quái dị.
Một bên chăm chút “con gái”, bà lại quay sang khoảng không nói nhỏ:
“Liên nhi, nhớ dặn phòng bếp chuẩn bị rượu hùng hoàng, thêm ngũ sắc chỉ, còn túi thơm của đại tiểu thư nữa. Sáng mai ra cửa, đừng quên treo lá ngải, lá xương bồ.”
Không ai đáp lời, nhưng Giản Hiền như nhận được hồi ứng, liền mỉm cười mãn nguyện. Bất chợt, bà ngó ra song cửa, dịu giọng:
“A Linh nên nghỉ trưa rồi, dưỡng đủ tinh thần, mai mới xem được đua thuyền.”
Nói rồi, bà bế búp bê vào phòng ngủ. Chờ bóng dáng bà khuất hẳn, Phương ma ma mới thở dài một tiếng.
Năm Cảnh Đức hai mươi hai, tiết Đoan Ngọ, Tiết Linh mất tích. Hôm đó Tiết Kỳ đưa cả nhà ra hồ Huyền Vũ xem đua thuyền, lại dạo chợ đêm ven hồ. Ngày vui tốt đẹp, ai ngờ Tiết Linh bị bọn buôn người bắt cóc.
Mất con, Giản Hiền gắng gượng hơn tháng, rồi khi hy vọng tuyệt diệt, đau thương hóa điên. Từ ấy, mỗi ngày với bà đều là ngày trước Đoan Ngọ. Nếu bị lay tỉnh, bà lại quay về quãng thời gian con mới thất lạc, đau khổ phát cuồng, có lúc còn tự hủy thân thể. Cứ thế mười bảy năm dài.
Phương ma ma nói:
“Tiểu thư yên tâm, phu nhân dạo này tuy đôi khi thất thường, nhưng không hại gì.”
Khương Ly dịu giọng:
“Nhờ ma ma tận tâm chăm sóc mẫu thân, bao năm nay bà chịu khổ nhiều nhất. Ngày ta mới về, chưa có manh mối, chẳng dám quấy rầy mẫu thân. Nhưng ta luôn nghĩ, có cách nào điều dưỡng cho người. Hai hôm nay cân nhắc, nên tới hỏi ma ma. Người tuy chẳng phải thầy thuốc, nhưng hiểu rõ bệnh trạng của mẫu thân nhất.”
Phương ma ma lo lắng:
“Chữa bằng cách nào?”
Khương Ly đáp:
“Dùng thuốc phối châm cứu.”
Phương ma ma than:
“Chỉ e phu nhân chịu khổ thêm, bệnh càng nặng. Đã mười bảy năm, nếu bà mãi ở trong ngày vui ấy, với bà cũng đâu phải xấu. Hơn nữa, chẳng nói tới trị bệnh, ngay việc tiểu thư bất ngờ xuất hiện, phu nhân cũng có thể kinh sợ.”
Khương Ly gật đầu:
“Ta nghĩ rồi. Nên trước tiên dùng thuốc an thần, đợi mẫu thân ngủ sâu, ta sẽ chẩn trị. Châm của ta rất nhẹ, không dễ kinh động. Chủ yếu là điều hòa tâm mạch. Không dám chắc khỏi hẳn, nhưng khai thông khí huyết, giảm bớt mê loạn, tuyệt đối không hại.”
Phương ma ma hơi động tâm:
“Chỉ cần ngủ say là được?”
Khương Ly quả quyết gật. Bà do dự rồi nói:
“Nếu tiểu thư có thể khiến phu nhân nhẹ nhõm, lão nô tin. Nhưng cần báo với cữu lão gia trước.”
Khương Ly gật:
“Nên thế.”
Phương ma ma nghẹn ngào:
“Lão nô lớn tuổi hơn phu nhân, sớm muộn cũng đi trước. Khi ấy chẳng biết phu nhân sẽ thế nào. Giờ già yếu, có lúc không giữ nổi bà. Đêm trước phát bệnh, ta không kịp đỡ, bà ngã trúng mép sạp, lưng bầm một mảng. Sau này già hơn nữa, ai còn dỗ nổi bà đây?”
Khương Ly nói:
“Ma ma sẽ thọ lâu, nhưng người già khó tránh bệnh tật. Nếu thân thể người không khỏe, mẫu thân càng dễ phát bệnh. Ta tuy không giỏi trị phong tà, nhưng có thể giảm nhẹ phần nào, để người không thường xuyên kinh hãi. Bình thường bà có khó dùng thuốc không?”
Phương ma ma xót xa:
“Đều bỏ trong món ăn. Mỗi ngày chuẩn bị cơm canh, tùy bà thích gì, ta lén cho thuốc viên vào. Phần nhiều bà chẳng hay biết, vẫn ăn hết. Nếu có hôm bà nghi, ta phải dỗ: nói đại tiểu thư đã lớn, không được kén ăn kẻo nàng bắt chước. Nghe vậy bà vui, còn diễn chung với ta cho búp bê xem.”
Nói tới, đầy chua xót. Khương Ly nghe mà nhớ cảnh lần đầu gặp Ngụy Dương, khi bệnh tình chớm nặng. Nàng trầm giọng:
“Ma ma yên lòng. Xin cho ta thời gian, ta sẽ tận lực.”
…
Ra khỏi Liễu Đình viện, lòng Khương Ly nặng trĩu. Hoài Tịch cũng than:
“Bệnh phu nhân thật chưa từng nghe. May còn tin cậy ma ma, có người dỗ dành. Viện ấy cách biệt thế gian, hai người cùng sống, tựa như vở kịch… Thật khiến người ta không nỡ nhìn.”
Nói tới đây, Hoài Tịch chợt nhớ:
“Nô tỳ nhớ tiểu thư Phó gia đãi tiệc tạ ơn, Ngu cô nương từng nhắc có môn công pháp dành cho kẻ tâm trí thuần phác, có thể giúp phục hồi thần trí. Phu nhân tuy chẳng thể tập võ, nhưng biết đâu cách của giang hồ cũng hữu hiệu? Sao không thử ghé hẻm Phù Dung?”
Khương Ly khẽ lắc đầu:
“Bà đã chẳng còn chút tỉnh táo nào, lúc này không dùng cách khác được.”
Hoài Tịch có phần thất vọng. Đúng lúc ấy, Trường Phong từ tiền viện hối hả chạy tới:
“Đại tiểu thư, lão gia mời người ra tiền viện, có việc cần hỏi.”
Khương Ly đoán được, liền cùng Hoài Tịch đi.
Vừa vào đã thấy Tiết Kỳ đi lại trong sảnh, Tiết Thấm và Diêu thị cũng ở đó. Thấy nàng đến, Tiết Kỳ nhìn một lượt, hừ giận:
“Linh nhi, chuyện đêm qua ầm vang như thế, sao về phủ ngươi chẳng nói gì? Hôm nay sau triều ta hỏi mới hay, thật tức chết!”
Khương Ly chớp mắt:
“Phụ thân nói vụ án Mạnh Tương?”
Tiết Kỳ gắt:
“Còn việc tên Thôi Vân hành thích ngươi nữa! Bùi Hạc Thần chém đứt một tay hắn, còn Mạnh Tương kia, lại chẳng phải con ruột của An Viễn hầu phủ! Bao nhiêu chuyện hệ trọng như vậy!”
Ông tức sôi, Khương Ly vẫn điềm nhiên:
“Đêm qua con về quá muộn, chưa kịp bẩm.”
Tiết Kỳ hừ lạnh:
“Ngươi coi thường ta, chẳng để ta vào mắt!”
Diêu thị vội khuyên:
“Lão gia nguôi giận, đại tiểu thư bình an mới trọng. Chuyện khác, nàng không nói, ngài cũng đã biết rồi.”
Tiết Kỳ trừng râu trợn mắt:
“Chính vì từ người khác mà ta càng tức! Ngoài mặt người ta sẽ nghĩ sao? Nhà họ Tiết vô quy củ? Ta còn là gia chủ nữa không?”
Khương Ly cúi đầu:
“Đều do con sai.”
Tiết Kỳ chỉ vào nàng:
“Ngươi—”
Tiết Thấm xen lời:
“Theo muội thấy, chính là đại tỷ chữa bệnh rước họa. Tên Thôi Vân, chẳng phải tưởng tỷ muốn trị lành cho nha đầu Nhạc gia sao? Đường đường tiểu thư Tiết gia, mà như lang y lưu lạc, thật là…”
Khương Ly nhìn Tiết Kỳ, điềm tĩnh:
“Tam muội nói có lý. Xin phụ thân bẩm với cô cô, từ nay con dứt bỏ nghề y thì hơn.”
Tiết Kỳ khựng lại, rồi trừng nàng:
“Ngươi biết gì! Tỷ tỷ ngươi đi chữa bệnh bên ngoài, với họ Tiết ta đại hữu lợi. Chớ hồ ngôn!”
Tiết Thấm ấm ức, còn muốn nói thêm, Diêu thị đã kéo nàng lại.
Tiết Kỳ bình tâm, quay sang Khương Ly:
“Thế thì lời đồn bên ngoài đều thật?”
Khương Ly gật:
“Hẳn là vậy.”
Tiết Kỳ nghĩ tới đâu đó, bật cười nhạt:
“Mạnh Tố, bị vú nuôi lừa dối bao năm, đến con gái ruột cũng nhận lầm. Kẻ gây họa lại ngay dưới mắt! Ha, trò cười này chẳng biết lưu truyền bao nhiêu năm!”
Ông mỉa mai liên tục, Diêu thị cũng phụ họa. Khương Ly nghe, chỉ khẽ nhướng mày, ý vị sâu xa.
Sau cơn giận, Tiết Kỳ lại bảo:
“Cô cô con khen ngợi con. Nhưng Lăng nhi, con là con Tiết thị. Nhớ lấy, mọi việc đặt đại cục lên đầu, lấy an nguy mình làm trọng. Cô cô nghe việc đêm qua, lập tức sai người tới nha môn dò hỏi. Làm trưởng bối phải lo lắng, ấy là lỗi của vãn bối. Con nhớ kỹ!”
Khương Ly gật cho có lệ. Tiết Kỳ tiếp:
“Nghe nói con định ra ngoại thành giúp tế bần viện nuôi cô nhi lão bệnh? Đó là việc thiện. Ta đã bảo Tiết Thái chuẩn bị thêm lương thóc. Con cần gì, cứ sai ông ta.”
Tiết Thái bước lên:
“Đại tiểu thư, tiểu nhân đã soạn sẵn danh mục, mời người xem đủ chưa, rồi chọn ngày đưa đi.”
Ông ta dâng văn thư. Khương Ly xem qua, khá hài lòng:
“Đủ. Hôm nay muộn rồi, mai hãy đi, ta sẽ thân tới.”
Nói tới đây, nàng chợt cau mày:
“Nhưng sao chẳng thấy y phục? Áo bông chống rét cũng rất cần.”
Tiết Thái cười:
“Không phải tiểu nhân bỏ sót. Tiểu nhân đã cho người dò ở tế bần viện chùa Tướng Quốc. Họ nói mấy năm nay áo ấm đủ cả, vì Tiểu quận vương Giang Lăng năm nào cũng gửi cho bọn trẻ rất nhiều. Nếu nhà khác lại đưa, họ chỉ có thể chuyển sang nơi khác, thêm rắc rối đường xa.”