Tuyết bay vừa ngớt, Khương Ly chậm rãi theo sau Bùi Yến, nhàn nhạt quan sát phủ đệ rộng lớn trước mắt.
Cách năm năm, phủ Quốc công vẫn như trong ký ức nàng: mái hiên liền dãy, đình đài mộc thạch chẳng phô trương xa xỉ, song đâu đâu cũng lộ tài tình, tâm huyết. Từ giả sơn tiểu cảnh khéo léo, cho đến đối liên thi văn treo trên cửa đều khiến người ta phải dừng mắt. Giữa đông giá, lầu son ngói biếc như khoác lên y phục bạc, tùng trúc du liễu phủ đầu tuyết trắng, nhưng trên đường đi lại hiếm thấy tôi tớ, có chút vắng lặng.
Vào đến nội viện, Bùi Yến nói:
“Tật cũ của tổ mẫu đã lâu, là bệnh căn từ tuổi trẻ. Bao năm dùng thuốc điều dưỡng nhưng hiệu quả chẳng bao nhiêu, dạo gần đây chỉ có thể tĩnh dưỡng trên giường.”
Hắn dừng một chút, lại liếc Khương Ly:
“Án của Khang Cảnh Minh đã thẩm định gần xong, công văn đã trình lên ngự tiền. Sáng nay Thọ An bá cũng dâng ba đạo khẩn tấu. Đến giờ Ngọ, Từ Chiêu cùng Khánh An bá đã vào ngự tiền tạ tội.”
Khang Cảnh Minh giết người, tội không tránh khỏi. Nhưng Từ Lệnh Tắc và Dư Diệu Phù lại khó nói hơn: phụ thân của một người là hồng nhân trước mặt hoàng thượng, thống lĩnh năm vạn cấm quân tuần phòng doanh; phụ thân người kia là bá tước thế tập, tuy nay đã suy bại nhưng “lạc đà gầy còn lớn hơn ngựa”, trong triều hẳn sẽ có kẻ dốc lòng cầu tình.
Khương Ly đã sớm đoán trước, chỉ thản nhiên đáp:
“Tận nhân sự, nghe thiên ý thôi.”
Hai chữ “thiên ý” hàm nhiều ý tứ, Bùi Yến nghe xong cũng trầm mặc. Cửu Tư theo phía sau, tiếp lời:
“Cho dù bệ hạ mở lưới tha, danh tiếng của thiếu tướng quân Từ gia và tứ cô nương Dư gia cũng đã hỏng. Từ sáng sớm, chuyện xấu của hai người bọn họ đã truyền khắp Trường An, nay các thế gia đều chờ xem hai nhà thu xếp thế nào. Ầm ĩ đến mức này, e là khó tránh việc kết thân.”
Hoài Tịch thắc mắc:
“Dư cô nương đã mang cốt nhục nhà họ Từ, lẽ nào Từ công tử lại không cưới nàng ta sao?”
Cửu Tư nhún vai:
“Nếu không cưới, danh tiếng Từ gia càng thối. Nếu cưới, thì sau này nữ quyến Từ gia cũng chẳng còn mặt mũi ra ngoài. Quả thực khó nói.”
Trong lúc chuyện trò, viện của lão phu nhân phủ Quốc công đã ở ngay trước mắt. Vừa bước vào cổng, thấy nơi góc tường ba bốn cây mai vẫn rực rỡ. Tiểu nha đầu ngoài cửa vào bẩm, rèm cửa được vén lên, một ma ma dáng từ hòa bước ra.
Bùi Yến mở lời:
“Văn ma ma, tổ mẫu đã chờ chăng?”
Văn ma ma chính là bà hầu thân tín năm xưa từng sai Khương Ly đi bẻ mai. Năm năm chẳng gặp, tóc bà thêm điểm sương bạc, nhưng dung nhan lại càng hiền từ. Bà gật đầu:
“Đang đợi đấy. Vị này chính là Tiết đại tiểu thư?”
Bùi Yến xác nhận. Khương Ly cũng khẽ chào, Văn ma ma chăm chú nhìn nàng hồi lâu, thấy dung mạo quen quen, liền mỉm cười, đưa tay nâng rèm:
“Cô nương, mời vào—”
Trong phòng đốt trầm hương, lão phu nhân khoác áo váy họa tiết đoàn hoa màu nha thanh, đang tựa trên la hán sạp tây phòng. Bùi Yến đưa Khương Ly tiến đến:
“Tổ mẫu, đây chính là Tiết cô nương mà tôn nhi từng nhắc tới, nay tôn nhi mời nàng đến rồi.”
Bùi Yến né qua, Khương Ly liền đối diện một đôi mắt tuy đục mờ nhưng ôn hòa. Nàng cúi người:
“Thỉnh an lão phu nhân.”
Lão phu nhân cười hiền:
“Hạc Thần nhắc đến cô nương mấy lần rồi. Lão thân nghĩ, thân phận cô nương cao quý, sao chịu chẩn bệnh cho lão thái bà này. Không ngờ cô nương thật sự đến. Mau ngồi, A Văn, dâng trà.”
Văn ma ma bưng trà, Khương Ly ngồi xuống bên sạp:
“Lão phu nhân đừng lo, trị bệnh cứu người vốn là bổn phận y gia. Nếu được người tín nhiệm, ấy là vinh hạnh của ta.”
Lão phu nhân khẽ cười, ánh mắt cong cong:
“Cô nương trẻ tuổi đã nổi danh như vậy, ngoài cần cù, còn phải có thiên tư. Cả Trường An khó mà tìm ra được vài người như cô. Mới về Trường An, đã quen chưa?”
Khương Ly cầm chén trà ấm:
“Cũng tạm quen…”
Hàn huyên mấy câu, nàng đặt chén, tháo choàng, nói:
“Xin lão phu nhân đưa tay.”
Bà khẽ vén tay áo. Đầu ngón Khương Ly vừa chạm mạch, chân mày đã nhíu lại. Lão phu nhân cất lời:
“Trước đây ta vẫn dùng Thạch hộc trạch lan hoàn, cô nương xem nay nên đổi phương thuốc gì thì tốt hơn.”
Khương Ly im lặng chốc lát, rồi lạnh nhạt:
“Xin Bùi đại nhân tạm tránh.”
Bùi Yến thoáng sững, lập tức quay người lui ra. Cửu Tư ngẩn ngơ một lát, cũng theo ra trung đường. Lúc này Khương Ly mới nói:
“Lão phu nhân bệnh nặng đã lâu, chỉ đổi đơn thuốc là chưa đủ. Ta muốn kiểm tra kỹ thân thể người, không biết lão phu nhân có nguyện ý?”
Bà liếc Văn ma ma, nén vẻ ngượng ngùng:
“Ta tự biết bệnh mình, dù chữa thế nào, cũng đã nửa thân dưới đất. Cô nương chỉ cần kê đơn để ta qua được mùa đông này là đủ.”
Khương Ly chẳng vội, dịu giọng hỏi:
“Có phải lão phu nhân thường đau đầu, bụng dưới căng tức, khí hạ chảy nhiều, sắc vàng xen tạp đỏ trắng, lại đặc quánh; thường khô miệng, ăn uống kém, thêm đau lưng, tiểu tiện vàng gắt, đại tiện hoặc bí kết hoặc lỏng rối?”
Sắc mặt lão phu nhân càng thêm khó coi, nhưng vẫn gượng cười:
“Cô nương nói không sai.”
Khương Ly ôn tồn:
“Người không cần xấu hổ. Căn bệnh này do dây dưa lâu ngày mới trầm trọng. Mạch của người còn khỏe, vốn có tướng thọ, sao lại sớm buông bỏ, chối trị? Ta là nữ tử, thấu hiểu nỗi khổ của bệnh phụ khoa, nếu đổi là nam đại phu khác thì thôi, nay chính ta đến, mong lão phu nhân hãy tin ta.”
Lão phu nhân hơn sáu mươi tuổi, thường ngày hiền hòa điềm tĩnh, vậy mà đối diện Khương Ly, lại lộ vẻ căng thẳng, thẳng lưng gượng gạo, càng hiện rõ hạ thân bất tiện.
Khương Ly lại nói:
“Bệnh này do thấp nhiệt tà độc nhập bào cung, khí huyết ứ trệ, kết hợp tử huyết uất lại. Tà khí thịnh, ứ nhiệt nội kết, nên bụng dưới đau dữ, còn kèm phát sốt rét run. Khi ứ nhiệt bế tắc ở ruột, gây khí trệ không thông, nhiệt kết bên trong, sinh ra tiêu chảy, chán ăn. Lúc này, ta cần xem huyết dịch từ hạ thể, đồng thời kiểm tra xem hạ thân có loét sưng hay chảy máu không. Người cứ an tâm, bước ra khỏi gian phòng này, ta tuyệt không tiết lộ nửa lời.”
Lão phu nhân nghe vậy, siết chặt tay áo, cả đời từng trải mà giờ lại hoang mang bối rối:
“Ta… ta không phải lo cô nương nhiều lời, chỉ là bệnh này theo ta nửa đời, đến tuổi này, ngay cả bản thân cũng thấy ghê tởm. Cô nương dốc lòng, nhưng ta nhẫn chút cũng qua, cần gì đến thế…”
Khương Ly không buông lời:
“Ta hiểu lão phu nhân khó vượt qua được cửa ải tâm lý ấy. Nhưng con người sống một đời, bất kể sang hèn, bất kể già trẻ, thân thể phát phu đều là báu vật, sao có thể để bệnh tật giày vò mà chịu đựng qua ngày? Nữ nhân trong thiên hạ giỏi nhất một chữ ‘nhẫn’. Nếu thật sự không có cách trị, thì thôi cũng đành, nhưng nay đã có phương, lão phu nhân hà tất lại tiếp tục nhẫn nhịn? Năm mới gần kề, chỉ cần người tin ta, ta đảm bảo đến giao thừa, người sẽ chẳng còn bị bệnh này làm khổ.”
Lời nói tha thiết, khiến Văn ma ma cũng cảm động, bèn khuyên thêm:
“Lão phu nhân, cứ nghe theo Tiết cô nương đi. Đây chẳng phải chuyện trái lễ giáo, cũng chẳng có gì dơ bẩn khó nói. Người đau đến mất ngủ, chẳng thể kéo dài nữa. Mấy năm nay không có Ngu phu nhân ở bên, người ngày nào cũng chẳng được dễ chịu.”
Ba chữ “Ngu phu nhân” khiến tim Khương Ly chấn động. Lão phu nhân sắc mặt rốt cuộc cũng giãn ra, thở hắt một hơi:
“Vậy… phiền cô nương rồi.”
Khương Ly cũng thở phào, bảo Hoài Tịch để hòm thuốc lại, còn chính nàng thì xin lui ra.
Hoài Tịch hiểu bà muốn giữ thể diện, liền ngoan ngoãn ra ngoài đến trung đường. Cửu Tư thấy nàng, vội hỏi:
“Thế nào rồi?”
Hoài Tịch đáp:
“Còn phải chờ thêm chút nữa.”
Cửu Tư gật đầu, thấy Bùi Yến đứng yên bên cửa sổ, liền cùng Hoài Tịch nói chuyện phiếm:
“Ngươi luôn theo hầu Tiết cô nương sao? Trông ngươi tuổi nhỏ thế này, hai người đi lại giang hồ không sợ ư?”
Hoài Tịch mỉm cười:
“Sợ gì chứ? Bao nhiêu người cầu xin cô nương cứu mạng, ai dám làm hại cô nương?”
Cửu Tư lại nói:
“Nhưng nếu người được cứu vốn có tử thù, chẳng phải Tiết cô nương cũng dễ bị liên lụy sao? Ta thấy nàng ấy khí tức chẳng giống cao thủ.”
Hoài Tịch chớp mắt:
“Thế còn ta?”
Cửu Tư đáp:
“Ngươi cao chưa tới năm thước, lại gầy…”
Hoài Tịch vốn nhỏ nhắn, gương mặt cũng mảnh mai, càng lộ vẻ bé nhỏ. Suốt đời nàng ghét nhất là bị chê thấp lùn, nghe vậy sắc mặt lập tức nguy hiểm, nhưng nghĩ mình đang ở Bùi phủ, đành nhịn, xoay người ra cửa đứng.
Cửu Tư gãi đầu, lẩm bẩm:
“Ta đâu có nói sai…”
Chừng hai khắc sau, trong phòng vang tiếng gọi lấy nước. Không lâu, Khương Ly vừa rửa tay vừa nói:
“Quả như ta đoán. Bệnh tình lão phu nhân dây dưa nhiều năm, giờ đã nặng, song cũng chưa muộn. Theo phương của ta, hoàn toàn kịp cứu.”
Nàng lau tay, gọi Hoài Tịch vào, rồi nói tiếp:
“Ta kê ba phương. Một là thang thuốc uống trong, ngày ba lần. Hai là thang thuốc ngâm rửa, sáng tối hai lần. Ba là thuốc gói chườm nóng: đem dược bao vào xửng hấp nước sôi một khắc, rồi bọc vải thô đặt lên bụng dưới chườm một khắc, có thể giảm đau.”
Nghe vậy, lão phu nhân và Văn ma ma nhìn nhau, ánh mắt lộ vẻ kinh ngạc. Lão phu nhân nói:
“Trước đây ta có một nữ y cực kỳ tin tưởng, cũng thường dùng chườm nóng, chỉ là nàng dùng thang thuốc để chườm.”
Khương Ly biết bà nhắc tới Ngu Thanh Lăng, liền mỉm cười:
“Pháp chườm nóng vốn không hiếm. Lão phu nhân đã dùng qua, càng tốt.”
Nàng viết xong phương thuốc thì trời đã nhá nhem. Dặn thêm kiêng kỵ, thấy lão phu nhân mệt mỏi, nàng liền xin cáo từ. Lão phu nhân liền gọi:
“Hạc Thần, con tiễn Tiết cô nương đi.”
Bùi Yến bước vào nhận lệnh. Trước khi họ ra khỏi phòng, lão phu nhân còn hỏi:
“Mẫu thân con dạo này khỏe chứ?”
Bùi Yến đáp:
“Xin tổ mẫu an tâm, mẫu thân đang tĩnh tu lễ Phật.”
Lão phu nhân không hỏi thêm. Ra đến ngoài, Khương Ly thoáng nhìn nghiêng Bùi Yến. Mẫu thân hắn, Cao Dương quận chúa, vốn là con gái Chiêu thân vương Lý Mẫn. Chiêu thân vương giỏi cưỡi ngựa bắn cung, quận chúa cũng tinh thông kỵ xạ, vì thế thường lấy roi dạy dỗ người khác. Nhưng theo trí nhớ của nàng, quận chúa xưa kia vốn chẳng tin Phật Đạo.
Rời viện lão phu nhân, Cửu Tư cầm đèn dẫn đường theo hành lang phía đông ra cổng phủ. Đi chưa bao xa, Bùi Yến hỏi:
“Tiết cô nương lấy bao nhiêu chẩn phí?”
Hoài Tịch nhìn chủ tử, Cửu Tư cũng vểnh tai. Khương Ly thản nhiên:
“Một lượng… vàng.”
Bùi Yến khựng bước. Hoài Tịch tròn mắt nhìn nàng:
“Cô nương, người nói… bao nhiêu?”
Khương Ly đáp gọn:
“Một lượng vàng. Có vấn đề sao?”
“Không vấn đề.” – Bùi Yến lập tức nói, rồi lấy đèn từ tay Cửu Tư, bảo:
“Ngươi đi thư phòng, lấy chẩn phí đến.”
Cửu Tư ngẩn ngơ, rồi vội vã chạy đi. Hoài Tịch ngắm vẻ mặt khó dò của Bùi Yến, lại len lén đoán hắn nghĩ gì. Khương Ly cũng liếc hắn một cái, thấy hanw chẳng biến sắc, liền ung dung nhận lấy chẩn phí.
Bấy giờ, Hoài Tịch khịt mũi:
“Hương gì thế?”
Nàng đảo mắt, rồi nhìn về bức tường hoa chạm rỗng, bước tới ngó sau:
“Cô nương mau nhìn, đẹp quá, một rừng mai xanh!”
Khương Ly vốn không định nhúc nhích, song đứng yên với Bùi Yến càng thêm ngột ngạt, đành ghé mắt nhìn. Vừa nhìn, mày nàng nhíu chặt: sau bức tường, không biết từ bao giờ đã mọc cả một rừng lục ngạc mai, nay nở rộ như tuyết xanh trên cành, mỹ lệ rực rỡ.
Nơi đây cách xa rừng mai phía tây viện lão phu nhân, nàng còn nhớ rõ trước kia vốn là vườn chuối và mộc cận. Liếc thần sắc thản nhiên của Bùi Yến, trong lòng nàng ngờ vực hơn.
Chốc lát, Cửu Tư ôm hộp gấm chạy về, thấy Hoài Tịch mắt dán vào rừng mai, liền thở hổn hển:
“Đây là lục ngạc mai từ Lân Châu, phủ ta trồng hẳn ba mảnh rừng đấy.”
Nói rồi dâng hộp gấm lên. Hoài Tịch nhìn Khương Ly, thấy nàng không nói, mới nhận lấy.
Đã thu phí, Khương Ly chẳng muốn nấn ná. Đến cổng phủ, Bùi Yến hỏi:
“Bệnh tình tổ mẫu—”
Khương Ly đáp:
“Bảy ngày nữa ta sẽ đến, Bùi đại nhân khỏi phải tiễn.”
Nói xong, nàng lên xe. Bùi Yến đứng trước cổng, mắt tiễn xe đi xa.
Đợi người đi hẳn, Cửu Tư không tin nổi, kêu:
“Công tử, tiểu nhân nghe nói Tiết cô nương đến phủ Thọ An bá thì chẳng lấy một đồng, sao đến chỗ ta lại đòi hẳn một lượng vàng? Một lượng vàng đó! Ngay cả Kim đại nhân Thái y thự cũng chẳng dám cao thế!”
Bùi Yến thản nhiên:
“Đúng. Nàng đến nhà khác, cũng không lấy nhiều như vậy.”
Hắn quay người vào phủ. Cửu Tư vò đầu, hốt hoảng:
“Hả? Vậy ra chỉ có phủ ta bị tính đắt vậy thôi à! Nàng có biết ngài một tháng lương bổng bao nhiêu không—”
Cửu Tư nóng ruột, mà tâm tình Bùi Yến lại dường như tốt lạ thường. Hắn gật đầu:
“Phải, chỉ có chúng ta.”
Thấy hắn thảnh thơi, Cửu Tư giận sôi:
“Ngài có biết toàn bộ lương bổng của ngài cộng lại chưa đến mười lượng bạc một tháng không hả!!!”
Trên đường hồi phủ, Hoài Tịch mở hộp gấm, nhìn thấy một thỏi vàng óng ánh, mắt trừng lớn:
“Cô nương, người thật dám lấy đấy! Người với Bùi đại nhân, một kẻ dám đòi, một kẻ dám đưa – trong Trường An này còn ai lấy phí chẩn cao hơn người sao? Bùi đại nhân cũng đâu giống kẻ ngốc nhiều tiền…”
“Ta nói rõ trước rồi. Hắn vẫn muốn mời ta, vậy không trách ta chẩn phí đắt.”
Hoài Tịch khép hộp, dè dặt:
“Người đến nhà khác chưa bao giờ đòi phí thế này. Riêng phủ họ Bùi lại tính đặc biệt, tựa hồ… như có thù với Bùi đại nhân vậy.”
Khương Ly khẽ nhếch môi:
“Rõ đến thế sao?”
Hoài Tịch ngẩn ra:
“À? Quả có thù thật à!”
Khương Ly cười nhạt, như trêu:
“Thù thì cũng chẳng hẳn, nhưng tuyệt không thể vô duyên vô cớ mà đến phủ hắn chữa bệnh.”
Hoài Tịch còn đầy hiếu kỳ, song thấy chủ tử tựa người vào vách xe dưỡng thần, đành ôm hộp gấm, nén tò mò xuống.
Trở về Tiết phủ thì trời đã tối hẳn. Vừa vào cửa, đã thấy Như Ý chờ sẵn:
“Đại tiểu thư, nhị tiểu thư phủ Quảng Ninh bá đến rồi.”
Nhị tiểu thư phủ Quảng Ninh bá chính là Quách Thục Dư. Lần trước tại yến hoa ở phủ công chúa, Khương Ly cùng nàng chia tay đến nay đã nhiều ngày, vẫn còn nhớ vết thương ở cổ tay nàng. Nay nghe nàng tới, Khương Ly vội nói:
“Người đâu? Mau dẫn đường.”
“Ở tiền viện, tam tiểu thư đang bồi tiếp.”
Đến chính sảnh, đèn đuốc sáng rực, cửa ngoài có bảy tám người hầu xa lạ. Trong, Quách Thục Dư đang trò chuyện với Tiết Thấm. Thấy Khương Ly trở lại, nàng lập tức bước ra đón:
“Tiết cô nương đã về.”
Đến gần, Khương Ly hỏi:
“Quách cô nương, cổ tay cô đã đỡ chưa?”
Hôm nay, Quách Thục Dư khoác áo choàng gấm tím điểm bách hoa hí điệp. Nàng mỉm cười dịu:
“Phương thuốc cô nương cho, ta đã dùng, mấy ngày này dưỡng tĩnh, nay đã khỏi hẳn rồi, xin cô nương chớ bận tâm.”
Khương Ly khẽ chạm cổ tay nàng, quả thấy không còn trở ngại mới yên tâm. Nhờ ánh sáng đèn rực rỡ, nàng lại nhìn kỹ Quách Thục Dư, thấy tóc đen mượt như tơ, ngũ quan thanh tú, nhưng sắc mặt nhợt nhạt.
Khương Ly hỏi thẳng:
“Đêm nay đến, hẳn có việc?”
Sau lưng Quách Thục Dư là một tỳ nữ áo tím, còn có bảy tám hầu gái đi theo. Thấy nàng ngập ngừng nhìn quanh, Khương Ly hiểu ý:
“Không bằng mời cô nương sang chỗ ta.”
Quách Thục Dư liền gật đầu, cáo từ Tiết Thấm:
“Tam cô nương, ta xin qua bên đại tiểu thư một lát.”
Tiết Thấm không vui, nhưng vẫn nói:
“Cũng được. Dù sao mấy hôm trước đại tỷ nổi bật, chuyện nhà họ Từ với Dư gia, cứ để tỷ ấy kể rõ. Giờ khuya rồi, ta về nghỉ trước.”
“Vừa nãy ta nghe tam cô nương kể chuyện nhà họ Từ và Dư gia. Giờ mới biết, ra thì việc Phó cô nương bị từ hôn còn có ngọn nguồn như vậy. Họ Từ cùng nàng đính hôn bao năm, đến lúc lại bạc tình tàn nhẫn, thật khiến người than thở.”
Cảm khái xong, nàng lại nói:
“Nghe nói cô nương vừa đến Bùi phủ chẩn bệnh?”
“Đúng, lão phu nhân phủ ấy bệnh cũ tái phát.” Khương Ly ngừng một nhịp, rồi hỏi:
“Quách cô nương hôm nay tới, là để nói tiếp chuyện dở trước kia?”
Nụ cười nơi môi Quách Thục Dư tan biến, nàng mím chặt môi, khẽ gật đầu.
Khương Ly đã hiểu, ngoái nhìn bọn hầu phía sau, không hỏi thêm. Chờ đưa nàng vào Doanh Nguyệt Lâu, dâng trà điểm tâm, rồi lui bớt Cát Tường cùng Như Ý, mới lặng lẽ chờ nàng mở lời.
Quách Thục Dư vừa ngồi xuống đã tha thiết thưa:
“Xin cô nương cứu ta—”
Khương Ly thoáng kinh ngạc:
“Cô nương chớ khách khí. Cô… thấy không khỏe ở đâu?”
Quách Thục Dư mở đầu mà vẻ mặt cực kỳ căng thẳng. Tỳ nữ áo tím bên cạnh thay nàng nói:
“Tiết cô nương, tiểu thư chúng ta suốt một năm nay đã mấy lần bị kinh hãi. Lần đầu là vụ án gian sát năm ngoái. Sau đó lại liên tiếp gặp vài chuyện bất trắc. Từ đó, tiểu thư mắc một chứng lạ—”
protected text
“Ta… luôn cảm thấy có người muốn giết ta.”
Khương Ly kinh ngạc:
“Lời ấy là sao?”
Quách Thục Dư sắc mặt khó coi, dường như cũng thấy mình hoang đường. Tỳ nữ áo tím vội nói:
“Nghe thì lạ, nhưng tiểu thư không phải đa nghi, cũng chẳng phải trúng tà. Người hẳn là mắc bệnh rồi.”
Nhìn vào đôi mắt lo sợ của Quách Thục Dư, Khương Ly cố giữ bình thản:
“Chứng bệnh này, ta quả thật lần đầu gặp. Xin cô nương nói rõ: triệu chứng bắt đầu từ khi nào?”
Tỳ nữ áo tím khích lệ nhìn chủ tử. Quách Thục Dư vành mắt đỏ hoe, cất giọng run run:
“Nếu nói kỹ, thì khởi đầu từ tháng năm năm ngoái. Cô nương có điều không biết, bấy giờ Trường An xuất hiện một tên sắc ma mất hết nhân tính, liên tiếp hại chết ba vị tiểu thư quan gia. Trong đó, nạn nhân thứ ba chính là người cùng chúng ta đi du ngoạn hôm ấy…”
Giọng nàng run rẩy, còn mang nỗi sợ chưa tan:
“Đó là Doanh Thu, ái nữ của Ngự sử Lại bộ – Nhạc đại nhân. Hôm ấy chúng ta sáu người đi thưởng phong sau núi Tam Thanh quán. Lúc lên núi nắng chói chang, đến đỉnh trời bỗng mưa lớn. Trong bọn, chỉ Doanh Thu mang dù che nắng, nên cùng nha hoàn xuống núi trước để gọi gia phó đưa dù lên. Ai ngờ…”
Nàng hít sâu, sắc mặt tái nhợt:
“Nửa canh sau, bọn gia phó mang dù lên, lại nói không gặp Doanh Thu. Đến lúc xuống quán hỏi, gia nô nhà họ Nhạc vẫn bình thản vì tưởng tiểu thư có dù, an nhiên chờ. Lúc so sánh lời hai bên, mới biết Doanh Thu cùng nha hoàn đi đã hai canh mà chẳng trở lại…”
Khương Ly ánh mắt trầm xuống:
“Nàng ấy gặp nạn ở sau núi?”
Quách Thục Dư gật mạnh, giọng khản đặc:
“Chúng ta cùng sư phụ trong quán, gia phó các nhà đi tìm. Trước hết thấy nha hoàn bị đánh ngất trong rừng, rồi ở một căn săn thất bỏ hoang, tìm thấy Doanh Thu… Khi ấy đã là giờ Hợi, thi thể vô cùng thảm thương. Ta nhìn thấy liền ngất đi. Từ đó trở đi, trong lòng ta luôn thấy có kẻ muốn giết mình.”
Nàng nói, ánh mắt hoảng hốt dán vào khoảng không sau lưng Khương Ly:
“Ban đầu ta sợ sắc ma, suốt hai tháng không dám ra khỏi phủ, ngày ngày phái người đến nha môn dò hỏi. Đến tháng bảy nghe Kim Ngô Vệ đã bắt được phạm nhân, ta vẫn chẳng yên, lại chờ thêm bảy tám ngày. Nghe tin hắn bị giam thiên lao, mới thở phào. Nhưng chừng nào hắn chưa xử tử, ta vẫn thấp thỏm. Đến cuối tháng chín, hắn rốt cuộc bị xử trảm ở Tây thị. Ta tưởng có thể buông xuống, ai ngờ… con mèo ta nuôi bảy năm lại đột nhiên chết.”
Khương Ly nhíu mày:
“Có tìm ra nguyên nhân?”
Quách Thục Dư chua xót lắc đầu:
“Đại phu nói có thể trúng độc. Mèo của ta ngoài ăn cá tôm tươi, còn hay liếm yến sào ta dùng. Hôm ấy, ta vừa cho nó cả chén nhỏ…”
Nàng kể tiếp, mắt rưng rưng:
“Sai người tra xét, cá tôm đều bình thường, bát đĩa cũng không vấn đề. Người ta an ủi rằng chắc mèo ăn phải vật dơ độc khác. Ta bán tín bán nghi, thêm liên tiếp kinh hãi, liền đổ bệnh đến cuối năm. Khi mới khá lên đôi chút, lại gặp chuyện…”
Giọng nàng run, chậm rãi:
“Tháng chạp, ta đi thắp hương ở Tướng quốc tự. Xe ngựa đi qua dốc, trục bánh gãy, xe lật, suýt rơi xuống vực. Ta va đầu chảy máu, hoảng hồn thất vía, từ đó mắc chứng kinh quý.”
Khương Ly hỏi:
“Việc ấy là ngoài ý muốn?”
Quách Thục Dư cười khổ:
“Phải, người nhà tra xét, nói trục gỗ bị mọt ăn rỗng. Sau đó ta suy sụp suốt ba tháng. Đến tiết xuân tháng tư, ta ra hồ Huyền Vũ dạo mát, không hiểu sao lại ngã xuống hồ. Lúc mơ hồ chỉ cảm thấy có người đẩy, nhưng bấy giờ ai nấy đều có chứng, tuyệt không có người đứng sau lưng ta.”
Đôi mắt nàng tràn hoảng hãi, thở gấp:
“Từ đó ta gần như không dám ra ngoài. Nhưng cũng chẳng thể cả đời ru rú trong phủ. Đến trung thu, chúng ta đến trang viện của Đức vương thưởng nguyệt. Đêm ấy hai vị công chúa cũng có mặt, nên nam nữ đều ở lại. Ai ngờ căn phòng ta ở bỗng bốc cháy, cửa còn kẹt. Ta cùng Họa Bình suýt chết cháy bên trong.”
Khương Ly cau chặt mày:
“Về sau tra ra nguyên do?”
Quách Thục Dư lắc đầu:
“Không. Khi ấy đang mùa thu hanh khô, chỉ cần tia lửa là bén. Cuối cùng ta chỉ bị thương nhẹ, nên cũng bỏ qua.”
Tỳ nữ áo tím – Họa Bình – tiếp lời:
“Gần đây nhất chính là mấy hôm trước, tại phủ Khánh Dương công chúa. Hôm ấy cô nương cũng có mặt. Ngài còn nhớ chậu lan kiến trên lầu ba rơi xuống, suýt trúng các ngài chứ?”
Khương Ly khẽ động, tất nhiên nhớ rõ. Hôm đó chậu hoa nhắm thẳng nàng và Quách Thục Dư, chính nàng ấy lao ra che, mới bị thương ở cổ tay.
Khương Ly gật đầu:
“Phải. Hôm ấy tra xét, không ai thấy bóng người nơi cửa sổ. Sau lại kết luận lan can gỗ mục nát, coi như tai nạn.”
Quách Thục Dư nghẹn giọng:
“Đúng, lần nào cũng là ‘tai nạn’. Ta như bị nguyền rủa, sợ gì đến nấy. Hôm định tìm cô nương nhờ chẩn bệnh, lời còn chưa nói xong đã lại gặp họa.”
Nước mắt rơi lã chã:
“Doanh Thu là bạn chí thân, mèo lại nuôi bảy năm. Từ đó ta suy sụp. Từ lần rơi hồ, ta ngày càng sợ hãi, đêm đêm ác mộng, ngay cả trong phủ cũng run rẩy, nên mẫu thân tăng thêm bà vú tỳ nữ bảo vệ. Mẫu thân gấp gáp, tưởng ta nhiễm tà, mời nhiều hòa thượng đạo sĩ mà vô ích. Đại phu kê đủ loại thuốc an thần, nhưng cũng không đỡ…”
Nàng lau mắt:
“Từ sau yến hoa, bệnh tình càng nặng, mấy đêm nay mỗi đêm chỉ ngủ hai canh, lại thường nghe thấy ảo. Nếu kéo dài, e ta sẽ phát điên, nên mới quyết tâm tìm cô nương.”
Nghe kể, Khương Ly thật sự kinh dị:
“Hơn một năm, liên tiếp mất bạn, mất vật cưng, lại bốn lần suýt chết. Quả thực dễ sinh tâm bệnh. Đưa tay, ta bắt mạch.”
Nàng chẩn mạch xong, hỏi:
“Đêm thường mộng thế nào?”
Quách Thục Dư đáp dồn dập:
“Trong mộng luôn bị theo dõi, bị truy sát. Thường thấy Doanh Thu. Mỗi đêm tỉnh dậy bốn năm lần. Ban ngày đầu óc loạn, tưởng ngoài cửa có người, trong sân có người. Biết rõ an toàn, vẫn không khống chế được. Nghĩ mãi đau đầu, nghẹt thở.”
Khương Ly tập trung:
“Mạch nhỏ mềm, ấn sâu lại trơn động như hạt đậu, không yên. Đây là chứng kinh hoảng, kèm tâm quý, lại thêm khí huyết suy yếu, dễ nghịch loạn. Giữa đông giá còn bị hàn tà xâm nhập, nên sợ lạnh, tay chân lạnh, ngực tức, kèm phát cuồng, rùng mình.”
Nàng ngừng, rồi nói:
“Ta kê cho cô nương phương thuốc ôn dương an thần, dùng thử hai ngày.”
Sai Hoài Tịch bày giấy bút, Khương Ly đọc:
“Quế chi 3 lượng bỏ vỏ, cam thảo 2 lượng, sinh khương 3 lượng, mẫu lệ 5 lượng, long cốt 4 lượng, đại táo 12 quả, thục tất 3 lượng bỏ tanh. Trước hết sắc thục tất lấy 8 phần, rồi cho các vị khác, lấy 3 phần, bỏ bã, uống 1 phần.”
Nói xong, nàng lại hỏi:
“Cô nương có đi cúng tế Nhạc cô nương chưa?”
Quách Thục Dư gật:
“Tất nhiên đã đi.”
Khương Ly gật đầu:
“Cô nương chớ quá sợ. Bệnh chưa vào giai đoạn hiểm. Tất cả đều bắt nguồn từ vụ Nhạc cô nương. Muốn lành hẳn, ngoài trị thân, còn phải giải tâm ma.”
Thấy nàng kinh hãi, Khương Ly khẽ thở dài:
“Tâm bệnh khó y, nhưng đừng sợ. Chúng ta sẽ từ từ. Mời cô nương lên giường, ta châm cứu cho.”
Quách Thục Dư thuận theo. Khương Ly lấy châm, lần lượt châm các huyệt Quyết âm, Thái âm, Thiếu dương, rồi thêm Dương minh, Ngư tế, Đại lăng, Nội quan. Sau một khắc, thu châm, dặn:
“Ba ngày nữa đến lại, đổi đơn, châm tiếp.”
Quách Thục Dư chỉnh y phục:
“Được. Ba ngày nữa, vẫn chạng vạng ta sẽ tới.”
Khương Ly gật, nàng cầm chén trà ấm, nghỉ một lát, rồi cáo từ. Trước khi đi, sai Họa Bình nộp chẩn phí.
Khương Ly để Hoài Tịch nhận, còn tự tiễn nàng ra cổng. Đến lúc chia tay, nàng không nhịn được hỏi:
“Trừ lần ở phủ Khánh Dương công chúa, những nguy hiểm trước kia, cô nương đều sai người tra xét kỹ? Quả đều là ngẫu nhiên?”
Quách Thục Dư gật mạnh:
“Phải. Tuy không báo quan, nhưng quả thật có cho người điều tra.”
Khương Ly hơi yên tâm, khuyên:
“Một năm nhiều tai nạn liên tiếp, đúng là khó tin. Nhưng thế sự vốn bất trắc. Trước tiên cô nương hãy dưỡng sức. Nếu sợ, cứ tăng thêm người hầu bảo vệ trong ngoài.”
Quách Thục Dư cảm tạ, rồi lên xe trong sự hộ tống của đoàn hầu.
Nhìn xe khuất dần trong màn đêm, trong lòng Khương Ly lại dâng lên cảm giác bất an: Một tiểu thư phủ bá, sao lại xui rủi đến vậy?