Hạc Lệ Trường An

Chương 162: Khám Phá Bí Ẩn



“— Rút máu?!”

Ninh Quắc suýt nữa thì cằm rơi xuống đất, kinh hãi nói:

“Ý là nói, hung thủ trước khi giết Phó Hoài Cẩn đã rút máu hắn trước? Làm vậy để báo thù cho Phạm Trường Hựu ư?”

Lời vừa dứt, sắc mặt mọi người đều biến trắng. Hắn lại không nhịn được nói tiếp:

“Hoặc giả, chính là dùng cách này để giết người? Hắn bị hành hạ đến chết như thế?”

Phó Hoài Cẩn nay xương cốt đã bị thiêu, chân tướng cái chết khó mà truy cứu, nên suy đoán của Ninh Quắc không phải vô căn.

Bùi Yến trầm giọng nói:

“Xác thực có khả năng ấy—”

Ninh Quắc chỉ thấy lưng lạnh toát, run run nói:

“Phạm Trường Hựu bị hại thảm đến thế, hung thủ báo thù bằng cách này cũng chẳng lạ. Trước rút máu, sau chặt xác, lại còn thiêu thân, là hận đến cực điểm. Chẳng phải nói ba người Viên Diễm đều lấy Phó Hoài Cẩn làm đầu sao? Biết đâu chính hắn là kẻ từng bày ra chủ ý giết Phạm Trường Hựu!”

Bùi Yến không tiếp lời ấy, chỉ nói:

“Phó Hoài Cẩn chết vào đêm hai mươi tám, đêm ấy hung thủ hoàn thành việc giết và phân xác. Không chỉ phân thi thể, còn đem máu hắn đổ vào hố xí. Quá trình này tất phải dùng đến nhiều dụng cụ — vậy hung thủ lấy đâu ra những thứ ấy từ trước?”

Khương Ly đáp:

“Máu trong thân một nam nhân trưởng thành, nếu dùng bát lớn mà đong, ít cũng phải sáu bảy bát; nếu dùng thùng, chí ít cũng nửa thùng. Nhiều máu như vậy, ắt phải có vật chứa, mà vật chứa ấy tất sẽ để lại dấu vết.”

“Niêm phong nhà xí này lại!” — Bùi Yến hạ lệnh, rồi sải bước đi về phía nhà bếp.

Khương Ly và Ninh Quắc vội theo sau. Đến nơi, thấy Cung thúc cùng vài người đang thấp thỏm chờ đợi.

Bùi Yến hỏi:

“Gần đây trong bếp có vứt bỏ hũ, thùng nước hay vật gì tương tự chăng?”

Mọi người đều thoáng biến sắc. Cung thúc vội đáp:

“Không có, bẩm đại nhân, chúng tiểu nhân ngày nào cũng nấu nướng, nếu mất vật dụng gì thì ắt biết ngay.”

Cung thẩm cũng phụ họa:

“Phải đó, đồ trong bếp đều dùng hằng ngày, không thể nhớ sai.”

Ánh mắt Bùi Yến như lưỡi kiếm quét qua khắp bếp, rồi lại xuyên qua gian sau mà đi ra hậu viện.

Đến kho tạp vật, hắn hỏi tiếp:

“Trong này có mất thứ gì chăng?”

Cung thúc bước nhanh đến tra xét, rồi nói:

“Không, mấy món lớn đều còn nguyên, chúng tiểu nhân còn nhớ cả số lượng.”

“Qua phòng tắm xem thử.”

Bùi Yến lại đi trước, Cung thúc vội theo. Trong phòng tắm có rất nhiều thùng nước; phía sau, nơi tắm rửa, lại càng có không ít chậu và thùng gỗ. Hai người đi đến hậu sảnh, Cung thúc đếm kỹ rồi nói với vẻ lo lắng:

“Đều ở đây cả, không mất cái nào.”

Khương Ly cũng theo vào, cùng Bùi Yến tra xét kỹ lưỡng các vật dụng gỗ, song đi một vòng chẳng thấy điều gì khác lạ.

Ra khỏi cửa phòng tắm, Cung thúc ngập ngừng nói:

“Đại nhân nói đến hũ hay thùng nước, nếu là loại đã hư hỏng thì có tính không?”

Bùi Yến hỏi:

“Còn dùng để đựng nước được chăng?”

Cung thúc gật đầu:

“Có cái còn dùng được, nhưng chỉ chứa được nửa thùng.”

Bùi Yến lập tức nói:

“Dẫn đường.”

Cung thúc dẫn họ đi về tiểu viện phía sau bếp, men theo bức tường phía nam mà tới chỗ dưới máng nước sau hiên.

Vừa quẹo qua góc tường, đã thấy bên dưới máng hiên có một đống hũ sành, thùng gỗ, sọt tre hư hỏng. Có cái nứt toác không thể dùng, có cái chỉ sứt miệng hoặc gãy quai.

Bùi Yến bước tới xem kỹ:

“Những thứ này có nhớ số lượng không?”

Cung thúc làm khó:

“Chuyện này thì không nhớ được. Đều là đồ bỏ đi, bên nhà trồng hoa đôi khi lấy hũ để trộn đất, thứ nào mục quá thì đem đốt làm củi. Bao năm nay vẫn chất ở đây, khó mà nhớ rõ. Có điều… gần nhất là hai tháng trước, có hai chiếc thùng bị sứt miệng, cũng đem để ở đây.”

Nói đoạn, ông ta cúi xuống tìm một lượt rồi chỉ:

“Dường như là cái này… còn cái kia thì chẳng nhận ra nữa.”

Vốn là hai chiếc bỏ đi, nay chỉ còn một. Dù đã bị mưa nắng làm mốc xanh, song so với đám cũ kỹ quanh đó, thùng này rõ ràng mới hơn đôi chút.

Bùi Yến xem kỹ, hỏi:

“Chiếc còn lại, chứa được nửa thùng nước phải không?”

Cung thúc gật đầu:

“Chừng nào chưa bị mọt khoét thì vẫn có thể.”

Ninh Quắc lúc này chen vào:

“Vậy là đủ cho hung thủ rồi! Dùng xong chỉ cần bổ đôi bằng dao chẻ củi, quẳng vào bếp đốt, là chẳng ai biết mất một cái thùng cũ cả.”

Sắc mặt Bùi Yến lạnh lẽo như băng.

Khương Ly tiến lên nói:

“Cát giáo đầu nói, trong kho tạp vật còn mất một tấm vải dầu. Nay lục khắp thư viện chẳng thấy dấu máu thừa, e rằng chính là nhờ tấm vải ấy.”

Ninh Quắc lập tức gật đầu tán đồng:

“Vậy thì hợp lý rồi! Nếu không có vật gì ngăn, cho dù có rút máu đi chăng nữa, trên đất cũng khó mà không để lại chút vết máu. Có tấm vải dầu trải dưới, thì việc thu dọn sẽ dễ dàng hơn nhiều.”

Nói dứt lời, hắn đảo mắt nhìn khắp dãy hiên phía sau:

“Hung thủ biết tận dụng đồ bỏ, lại hiểu dùng vải dầu để che giấu dấu vết, hơn nữa còn có thể lặng lẽ lấy trộm đi mà chẳng ai hay, chỉ e kẻ đó đang sống ngay trong dãy nhà ngang phía sau này!”

Lời ấy vừa dứt, Cung thúc đã biến sắc, lòng run rẩy.

Bùi Yến liền nói:

“Ta nhớ trong nhóm tạp dịch có năm người mới tới thư viện trong vòng một năm trở lại đây, đi gọi Phương Viện Giám mang sổ tịch đến.”

Rất nhanh, Phương Thanh Diệp trình sổ, vừa lật vừa nói:

“Trong năm qua có năm người: ở chuồng ngựa là Mã Trung Nguyên, ở vườn hoa là Hà Xung, còn có môn phu Tống Minh Viễn, trai phu Khương Lượng và Tề Tường. Cả năm đều là người ngoài thành Trường An, đi bộ về nhà chẳng quá một ngày đường. Từ khi đến đây vẫn luôn yên phận, chưa từng gây rắc rối, cũng không mâu thuẫn gì với học sĩ.”

Phương Thanh Diệp lại lật vài tờ, nói tiếp:

“Cả năm tuy đều có chút sức lực, song trừ Khương Lượng và Hà Xung còn trẻ, ba người kia đều đã ngoài năm mươi. Giữ cửa hay tuần đêm thì được, chứ bảo họ kéo nổi cây cung ba thạch e không thể. Dù là Khương Lượng và Hà Xung, chỉ sợ cũng khó mà giương cung.”

Ninh Quắc lắc đầu:

“Hung thủ có chủ tâm ẩn giấu, rất có thể đến thư viện lâu vậy mà chưa từng lộ ra bản lĩnh thật. Dù thế, tuổi năm mươi vẫn không hợp lắm, chứ nếu chừng ba bốn mươi thì còn có thể. Nhưng hai người ấy không ở cùng chỗ, đêm hai mươi tám bị kinh động còn có người làm chứng cho bọn họ.”

Trong Đại giảng đường, những lời khai và quyển tông mấy ngày qua đều xếp thành chồng cao. Ninh Quắc vừa nói vừa lật xem, chẳng bao lâu lại tự phủ định suy đoán ban đầu.

Bùi Yến trầm ngâm:

“Phải. Hung thủ có thể giấu võ công, nhưng điều then chốt giờ không phải là có kéo nổi cung hay không, mà là phải giải được hắn đã làm cách nào mang thi thể Phó Hoài Cẩn ra khỏi phòng. Đó mới là bước mấu chốt. Viên Diễm và Lâm Mục Chi đều gặp nạn ở nơi trống trải, dấu vết để lại không nhiều, song vụ này là án trong mật thất — ắt có nguyên nhân đặc biệt.”

Ninh Quắc gật đầu liên hồi:

“Đúng rồi, hung thủ biết bố trí cơ quan, vậy sao không chọn nơi trống trải mà giết, lại cố tình tạo ra trò huyền hư này? Hẳn là có sơ hở nào đó muốn che đi.”

Khương Ly lúc này nói:

“Ta cũng nghĩ đến điều ấy. Hơn nữa, còn một chuyện chưa thông: vì sao hắn lại thiêu xác? Đã có thể đổ máu xuống hầm xí, sao không ném luôn thi thể vào đó? Để đó thối rữa, vẫn đủ phá hủy chứng cứ.”

Bùi Yến cùng Ninh Quắc đưa mắt nhìn nàng.

Khương Ly bèn đem nghi vấn từ sớm trình bày tường tận.

Nghe xong, Bùi Yến suy tư nói:

“Hủy xác diệt tích, thường chỉ có một lý do — là để che giấu phương pháp gây án.”

Ninh Quắc chau mày:

“Nhưng Phó Hoài Cẩn là bị rút máu mà chết, chỉ cần người khác phát hiện dị thường ở nhà xí thì cũng đoán được phần nào. Dù hắn có phi tang thi thể, cũng chẳng thay đổi được gì. Hay là… chỉ vì hung thủ hận Phó Hoài Cẩn đến cực điểm?”

Bùi Yến nghe đến đây, chợt nói:

“Có khả năng hung thủ đã phân xác ngay trong phòng của Phó Hoài Cẩn không?”

Khương Ly sững người, Ninh Quắc bật cười:

“Phân xác trong phòng hắn ư? Sao có thể! Đừng nói tiếng động sẽ kinh người — hắn vào bằng cách nào? Ra sao? Tấn công thế nào? Rút máu rồi lại xách cả thùng máu và từng mảnh xác đi xuống lầu chắc?”

Bùi Yến nói:

“Trong phòng Phó Hoài Cẩn, trên thảm trải có vết lún, còn dưới nền gạch có khe nứt do trọng lực mạnh. Trong các khả năng đã biết, chỉ có việc phân xác mới đủ lực khiến gạch vỡ.”

Ninh Quắc nhún vai:

“Sư huynh, chẳng ai dại mà vác xác đi xuống lầu cả.”

Bùi Yến cũng chỉ là thuận miệng mà hỏi, song càng nghĩ càng thấy cách ấy mạo hiểm quá mức. Hắn tiếp tục lật xem quyển tông, nói:

“Dấu chân người thổi sáo đêm qua không khớp với bất kỳ ai trong năm người tạp dịch, nhưng cũng không loại trừ khả năng hung thủ có đồng lõa. Sáng nay ta hỏi toàn bộ học sĩ tầng hai — ngày hai mươi tám tháng Chạp, người vào phòng Viên Diễm chỉ có ba người: Liễu Nguyên Gia, Tiết Trạm và Ngu Tử Khiêm. Cả ba đều không động vào đèn dầu của hắn.”

Bùi Yến vừa đọc vừa hỏi lại lời khai, còn Khương Ly thì dường như đang ngẫm nghĩ điều gì.

Một lúc sau, nàng chợt nói:

“Các người cứ tiếp tục đối chiếu chứng từ, ta đi xem lại phòng Phó Hoài Cẩn một lượt.”

Dứt lời, nàng quay người đi. Lúc ấy trời đã xế chiều, mặt trời như bánh lửa treo lơ lửng nơi tây thiên.

Nàng bước nhanh lên tầng hai, thấy Ngu Tử Khiêm cùng mấy người đang kiểm tra hiên ngoài.

Thấy nàng tới, ai nấy đều dừng tay nhìn sang.

Khương Ly ngạc nhiên hỏi: “Các người đang làm gì thế?”

Ngu Tử Khiêm đáp: “Sáng nay phát hiện một con chuột chết, bọn ta sợ những chỗ khác cũng có nên đang kiểm tra hết lượt.”

Khương Ly gật đầu, rồi đi thẳng đến phòng của Phó Hoài Cẩn.

Trong phòng, bàn ghế vật dụng đã được dọn lại như cũ.

Khương Ly đảo mắt một vòng, rồi dừng lại trước đèn dầu của Phó Hoài Cẩn.

Nàng kiểm tra tỉ mỉ một hồi, bỗng cúi người chăm chú nhìn vào chiếc đèn trên bàn.

Hoài Tịch thấy vậy liền hỏi: “Có chuyện gì sao, cô nương?”

Khương Ly cầm lấy đèn dầu, bước tới bên cửa sổ, cẩn thận quan sát dấu vết trên vách đồng của đĩa đèn.

“Nơi này có một vệt bẩn rất mảnh, nhưng đã khô cứng rồi, không rõ là do dầu đèn không tinh khiết, hay là có người đã bỏ độc vào trong.”

Hoài Tịch kinh hãi thốt lên:

“Chẳng lẽ hung thủ cũng hạ độc từ hạt thầu dầu với Phó Hoài Cẩn?”

Khương Ly đáp:

“Nếu hung thủ không phải người quen biết Phó Hoài Cẩn, thì đêm đó muốn vào phòng hắn e rất khó. Trừ phi hắn đã sớm hạ độc ngay trong phòng, để khi Phó Hoài Cẩn thần trí mơ hồ, không còn sức phản kháng.”

Hoài Tịch vẫn chưa hiểu:

“Nhưng nếu vậy, khi vừa chạng vạng thắp đèn, hắn chẳng phải đã trúng độc ngã xuống rồi sao? Lẽ nào hung thủ tới lúc hắn đã mê man? Nhưng nô tỳ nhớ Viên Diễm từng nói, ngày hai mươi tám, sau khi Phó Hoài Cẩn vào phòng thì chưa từng mở cửa ra nữa. Đến tối, khi Viên Diễm gọi, hắn còn bực bội đáp lại, chứng tỏ vẫn tỉnh táo. Hơn nữa, cửa còn khóa từ bên trong. Nếu hắn đã ngủ mê, hung thủ mở cửa bằng cách nào? Trong giang hồ tuy có nhiều thủ đoạn mở khóa, nhưng động tĩnh ấy mà bị người nghe thấy thì sao? Nô tỳ chỉ tùy tiện nói thôi…”

Khương Ly gật đầu:

“Ngươi nói rất đúng. Quả thật còn nhiều điểm không hợp lý. Hung thủ ắt phải chuẩn bị kỹ hơn chúng ta tưởng, chứ không thể liều lĩnh mà đặt cược vào chuyện không gặp ai.”

Nàng khẳng định suy luận của Hoài Tịch, song đôi mày tú lại chau chặt.

Nếu suy đoán của nàng sai, vậy rốt cuộc hung thủ đã rời khỏi nơi này bằng cách nào?

Đang mải suy nghĩ, ngoài hành lang bỗng vang lên những tiếng gọi xôn xao.

Khương Ly bước ra, thấy Ngu Tử Khiêm cùng mọi người đã kiểm tra đến giữa hành lang, gần như tất cả học sĩ tầng hai đều đã ra đứng xem.

Tiết Trạm đang vịn khung gỗ nói với Ngu Tử Khiêm:

“Đã hơn một tháng kể từ lần cuối rải thuốc chuột, phải rải lại thôi! Ta thường nghe trên trần có tiếng sột soạt, nhất định vẫn còn chuột chưa chết hết.”

Liễu Nguyên Gia dùng quạt che mũi, cau mày nói:

“Phải đó, ta còn ngửi thấy mùi hôi. Nói không chừng ngay trên đầu chúng ta có cả ổ xác chuột. Nghĩ thôi cũng nổi da gà, chốn này thực chẳng ở nổi.”

Hai người bọn họ đều xuất thân quyền quý, quen cảnh gấm vóc lụa là, chỉ cần tưởng tượng đến việc có chuột trong phòng đã đủ khiến lòng ghê tởm.

Trái lại, nhóm học sĩ nhà nghèo ở dãy phía nam thì thản nhiên hơn nhiều.

Truyện được dịch bởi team rừng truyện chấm com!!!

Trương Khánh Kiệt nói:

“Trước kia chuột nhiều, sách của ta còn bị cắn rách, nhưng tháng vừa rồi chẳng thấy hư hại gì nữa, chắc cũng không đến mức nghiêm trọng.”

Giang Kỳ ở xa lên tiếng:

“Đúng vậy, mấy ngày đầu quần áo còn bị gặm, giờ chỉ thỉnh thoảng nghe tiếng động, nhưng chẳng thấy bóng dáng nào nữa, áo xống vẫn nguyên vẹn.”

Đào Cảnh Hoa khẽ nói:

“Thuốc chuột độc lắm, rải khắp nơi cũng phải cẩn trọng, hơi phiền phức thật.”

Liễu Nguyên Gia liếc mấy người một cái, vẫn không giấu vẻ chán ghét:

“Nếu các người không muốn diệt thì thôi, ta sẽ thưa với Phương Viện Giám. Nếu thư viện không lo, ta bảo người nhà đến làm cũng được.”

Nghe vậy, ai nấy đều lộ vẻ khác nhau. Dù sao phủ Vĩnh Dương hầu cũng quyền thế hiển hách, chẳng sợ phải bỏ chút công sức.

Thấy chỉ là chuyện trừ chuột, Khương Ly chẳng để tâm thêm, liền rời đi đến phòng của Viên Diễm.

Nàng tỉ mỉ kiểm tra đèn dầu trong phòng, so sánh dấu bẩn với đèn của Phó Hoài Cẩn, nhưng không phát hiện gì khác thường.

Nghĩ đến việc Hà thúc từng nói về nơi mọc cây thầu dầu, nàng thoáng trầm ngâm rồi rảo bước về phía viện nhà bếp.

Khi ấy đã gần giờ cơm trưa, trong sân bếp người ra kẻ vào tấp nập.

Thấy Khương Ly tới, Cung thẩm lau tay, vội bước ra đón:

“Cô nương sao lại qua đây, có chuyện gì chăng?”

Khương Ly hỏi:

“Nước dùng trong thư viện, chỉ dựa vào giếng thôi có đủ không?”

Cung thẩm nghe thế, thở dài:

“Giếng thì có đủ, nhưng còn phải xem thời tiết. Gặp mưa, nước giếng lại đục, mấy hôm ấy toàn phải dựa vào nước mưa hay đi gánh nước. Nước mưa không thể uống, chỉ để rửa ráy, nấu cơm vẫn phải lên núi sau lấy nước. Nay người ăn nhiều, ít cũng phải gánh bảy tám thùng mới đủ. Bệnh của ta với Vân thẩm cũng vì thế mà nặng thêm.”

Khương Ly sáng nay vừa châm cứu cho hai người, Cung thẩm cười vui nói:

“Sáng được cô nương châm cứu, giờ đã dễ chịu hơn nhiều, đến lúc này vẫn chịu được, cô nương quả là thần y.”

Khương Ly lại hỏi:

“Cả hai người các thẩm cũng phải đi gánh nước ư?”

Cung thẩm than:

“Phải đấy. Sau rằm tháng Giêng, trời mưa liền hai hôm, con đường dốc xuống rất khó đi, ta với Vân thẩm khổ lắm mới gánh được. Sau đó đành nhờ mấy người đàn ông giúp mới đủ nước nấu nướng.”

Bà lại hạ giọng nói thêm:

“Trong thư viện, mỗi người làm mỗi việc, công tiền chẳng như nhau. Bình thường chẳng có lý gì để nhờ người khác giúp, nên bọn ta chỉ tự làm thôi.”

Khương Ly hiểu ý:

“Các thẩm mang bệnh đã lâu, không nên làm việc nặng.”

Cung thẩm mỉm cười:

“Cũng chẳng còn cách nào. Ông lão nhà ta lúc đó trật chân, vậy mà vẫn cùng đi gánh nước. Khi học sĩ về đông, việc giặt giũ lại nhiều, ta với Vân thẩm đều phải lên núi sau. Cô nương chớ lo, ta vốn quen việc nặng, chỉ nghỉ hai hôm đã lại làm được, Vân thẩm cũng thế, nghỉ hai ngày rồi lại dậy. Chúng ta đều là người làm, chẳng yếu ớt như tiểu thư đâu.”

Khương Ly cau mày:

“Vân thẩm cũng chỉ nghỉ hai ngày thôi sao?”

Cung thẩm gật đầu:

“Phải, khi ấy bọn ta xin Hà lão ít thảo dược, sắc uống hai ngày là đỡ nhiều. Vân thẩm tính tình thật thà, chẳng bao giờ vin cớ bệnh mà trốn việc.”

Nghe vậy, Khương Ly trầm ngâm, dường như có điều gì lóe lên trong đầu.

Nàng đang định hỏi tiếp thì từ phía tây, Cung thúc vội vòng qua, gọi lớn:

“Bà nó ơi, mau ra xem, cái chum bên kia lại tắc rồi!”

Khương Ly nghe tiếng liền quay lại, thấy Cung thẩm cười ái ngại, vội vàng đi về phía bức tường núi bên tây.

Khương Ly khẽ động lòng hiếu kỳ, cũng bước theo về phía bức tường núi.

Đến gần, nàng liền thấy sau tường có một chiếc chum nước lớn bằng gạch bùn, cao quá đầu người — chính là thiên uẩn, dùng để hứng nước mưa cho thư viện.

Vì trông chờ vào trời, nên mọi người gọi nó là chum trời.

Mùa mưa đến, chính nhờ chiếc chum này mà việc dùng nước trong thư viện được đảm bảo.

protected text

Hai vợ chồng Cung thúc – Cung thẩm đang hối hả lấy đất bịt nước rò, mà Khương Ly thì ánh mắt đã dừng lại ở đống tre xanh xếp bên dưới mái hiên gần đó.

Những cây tre kia dài ngót trượng, đã ngả vàng theo thời gian, bên cạnh còn có một cây tre mảnh hơn, đầu cột mũi sắt nhọn.

Nàng nhìn chằm chằm vào cây tre mảnh ấy, lại liếc qua chiếc chum trời, rồi lại nhìn đống tre chất kế bên.

Ánh mắt Khương Ly chợt co rút mạnh, sắc mặt khẽ biến.

Không nói không rằng, nàng xoay người bỏ đi.

Hoài Tịch vội vàng theo sát:

“Cô nương, sao thế ạ?”

Khương Ly thấp giọng nói:

“Ta nghĩ ra một cách — phải thử xem thủ pháp ấy có thể thực hiện được không.”

Hoài Tịch mở to mắt kinh hỉ:

“Cô nương biết hung thủ giết người thế nào rồi ư?!”

Khương Ly sải bước đi nhanh, đáp gọn:

“Còn phải xác minh thêm!”

Nàng như cơn gió, trở lại lầu hai học xá.

Trên hành lang, các học sĩ vẫn tụ lại một chỗ vì chuyện chuột, người người đều bàn tán ồn ào.

Khương Ly lướt nhìn qua bọn họ rồi bước vào phòng Phó Hoài Cẩn.

Trước tiên nàng xem bình phong, rồi bàn viết, lại quay sang cửa sổ.

Sau một hồi quan sát, sắc mặt nàng càng lúc càng trầm trọng, khẽ lẩm bẩm:

“Vậy… phải dùng thứ gì để nối đây?”

Hoài Tịch nghe mà chẳng hiểu gì, lại thấy Khương Ly liên tục mở cửa rồi đóng lại, mỗi lần bản lề đều kêu “két” một tiếng chói tai, khiến nét mặt nàng càng lúc càng khẩn trương.

Đúng lúc ấy, từ dưới lầu vọng lên tiếng gọi:

“Hạ Bính Chí, gọi người xuống, chúng ta đi thôi!”

Nghe giọng Cát Hoằng, Khương Ly nhìn xuống lan can, quả nhiên thấy hắn mặc áo ngắn nâu, đứng ở tầng trệt.

Trên hành lang, Hạ Bính Chí đáp một tiếng, rồi cùng Hồ Tu Văn, Đào Cảnh Hoa và mấy học sĩ học võ khác vội vã xuống lầu.

Vừa dứt chân bọn họ, hành lang lại vang vài tiếng cười khẽ, có người mỉa mai nói nhỏ:

“Cát giáo đầu cũng chỉ sai khiến được mấy người ấy thôi…”

Khương Ly khẽ nhíu mày, song nhìn ánh tà dương ngoài cửa sổ đã ngả về tây, nàng chẳng để tâm, lại quay vào phòng Phó Hoài Cẩn.

Vẫn như trước, nàng tiếp tục thử mở rồi đóng cửa, dù nhẹ tay đến mấy, tiếng “két” vẫn vang lên.

Nàng ngẩng đầu, thì thầm:

“Hung thủ chọn đêm mưa sấm chớp ra tay — chính là để che tiếng động. Nhưng cho dù vậy, giết người trong phòng Phó Hoài Cẩn vẫn là một canh bạc.”

Hoài Tịch xen vào:

“Nghe nói Phó Hoài Cẩn nhát gan lắm, đến đi hậu sơn một mình cũng không dám. Hung thủ e là không tìm được cơ hội khác, nên mới buộc phải ra tay tại phòng hắn.”

Khương Ly gật đầu:

“Cũng đúng. Nhưng nếu đã tính toán kỹ như thế, càng không thể để bản thân rơi vào hiểm cảnh.”

Nàng lặng lẽ đi vòng quanh phòng một hồi, trời đã chạng vạng.

Sau đó, nàng lại qua phòng Viên Diễm.

Vừa bước đến bàn viết, hình ảnh Viên Diễm nhảy lên bàn đập chuột chợt hiện trong đầu — khiến nàng vô thức lùi lại, ngẩng nhìn trần nhà.

Chỗ ván gỗ trên đỉnh đã được lợp lại, song vẫn còn một khe hở đen ngòm, như miệng giếng sâu thẳm.

Nàng chợt rùng mình, tưởng chừng trong bóng tối kia sẽ hiện ra cặp mắt chuột sáng rực, liền lùi thêm một bước.

Khương Ly hít sâu, ép mình dời tầm mắt khỏi trần nhà, nhìn quanh căn phòng quen thuộc.

Hai ngày nay, nàng đã ghi nhớ từng món đồ nơi đây, song vẫn không thể tưởng tượng nổi cách hung thủ hành động.

Bóng đêm đã phủ kín ngoài song cửa.

Bỗng, tiếng gọi của Hạ Bính Chí từ dưới lầu vang lên, nàng bước ra nhìn — thì thấy Cát Hoằng cùng mấy người đã trở về, ai nấy khiêng những rương hòm lớn nhỏ, đang chuyển vào kho phía bắc tầng một.

Ánh mắt Khương Ly quét qua từng người, chợt dừng lại trên người Cát Hoằng.

Cát Hoằng mặc áo ngắn tiện cho việc khiêng đồ, vạt áo được nhét gọn trong đai lưng, để lộ mặt trong áo có thêu chữ “Phúc” bằng chỉ ngũ sắc.

Trời đã nhập nhoạng, nhưng nàng vẫn nhìn rõ — đó là chữ Phúc dạng triện, tinh xảo mà kín đáo.

Khương Ly nheo mắt.

Khi nhóm người kia vừa khuất vào kho, nàng vội chạy xuống lầu.

Hạ Bính Chí cùng mấy học sĩ mồ hôi đầm đìa, cáo biệt với Cát Hoằng rồi quay về học xá.

Cát Hoằng khóa cửa kho, đang định đi về phía Đức Âm lâu, thì Khương Ly đuổi kịp:

“Cát giáo đầu, xin dừng bước.”

Cát Hoằng quay lại, thấy là nàng, liền mỉm cười:

“A, Tiết cô nương? Có chuyện chi vậy?”

Khương Ly nhìn vào áo hắn:

“Chữ ‘Phúc’ thêu trong áo kia là…”

Cát Hoằng bật cười:

“À, phong tục quê ta đấy. Đến Tết, thê tử ta dùng chỉ ngũ sắc thêu chữ Phúc này, mặc bên trong để cầu một năm bình an, thuận lợi. Già trẻ lớn bé ở quê ta ai cũng vậy.”

Nói xong, Cát Hoằng kéo vạt áo xuống, cười hòa nhã:

“Để cô nương chê cười rồi.”

Khương Ly chậm rãi lắc đầu, ánh mắt thoáng động.

Lát sau, nàng hỏi khẽ:

“Cát giáo đầu… có phải rất thích ăn cay không?”

Cát Hoằng hơi sững:

“Cô nương sao biết? Ta đến Trường An mấy năm, khẩu vị nhạt đi nhiều rồi. Quê ta chuyên trồng ớt, tiêu, ai mà chẳng mê cay.”

Nói đến đó, Cát Hoằng thấy Khương Ly đăm chiêu, rồi nghe nàng lẩm bẩm:

“Không thể nào…”

Cát Hoằng ngạc nhiên:

“Tiết cô nương, sao thế? Ta nói gì sai à?”

Khương Ly lắc đầu.

Ánh mắt nàng lóe sáng — như tia điện xẹt qua màn đêm.

Chỉ trong thoáng chốc, dường như mọi mảnh ghép trong đầu nàng đã khớp lại.

Nàng đột ngột quay người, chạy thẳng về phía Đại giảng đường.

Cát Hoằng nhận ra có điều bất thường, liền đuổi theo.

Trong giảng đường, Bùi Yến đang dặn dò Cửu Tư điều gì đó, nghe tiếng bước chân dồn dập, ngẩng lên liền thấy Khương Ly.

Nàng mặt mày nghiêm nghị, thần sắc khác hẳn thường ngày.

Bùi Yến đứng bật dậy:

“Sao vậy?”

Khương Ly hít sâu một hơi, giọng dõng dạc vang lên trong gian đường:

“Ta đã biết hung thủ giết Phó Hoài Cẩn bằng cách nào rồi!”