Hạc Lệ Trường An

Chương 161: Phương pháp rút máu đến chết



Khi Bùi Yến và Ninh Quắc vội vàng chạy đến, mấy người Tiết Trạm vẫn còn tụ tập ngoài cửa phòng. Hắn liếc qua con chuột chết nằm trên mặt đất, rồi sải bước tiến vào, hỏi dồn:

“Phát hiện được gì chưa?”

Khương Ly đang chăm chú nhìn ba ngọn đèn dầu trước mặt, nghe vậy liền đáp:

“Vừa rồi Tiết Trạm cùng mọi người phát hiện một con chuột chết trong kẽ mái hiên ngoài cửa. Khi ta đến xem, thấy trên mình nó dính ít bẩn, còn có vết dầu loang. Ta gỡ lớp bẩn ấy, hòa nước rửa ra, thì thấy vật này——”

Nàng cầm lấy chén trà sứ trắng, chỉ thấy trong nước, vết bẩn đã tan ra, lộ rõ lớp màng mỏng như đầu kim.

Bùi Yến chau mày:

“Đó là vật gì?”

Khương Ly giọng trầm xuống:

“Nếu ta không đoán lầm, thì lớp màng đó là vỏ hạt thầu dầu.”

Không đợi hai người kia hỏi, nàng nói tiếp:

“Thầu dầu tươi thường được dùng trong ma phỉ tán và mê hương, khiến người ta buồn ngủ, đầu óc mơ hồ. Toàn cây thầu dầu đều độc, nhất là nhựa và quả tươi, chỉ khi sao chín mới có thể dùng làm thuốc——”

Dứt lời, Khương Ly lại nhìn con chuột chết ngoài cửa:

“Con chuột này ít nhất đã chết ba, bốn ngày, thân xác bắt đầu thối rữa, bốc mùi. Dầu dính trên mình nó hẳn là dầu đèn, mà trong dầu đèn ấy, phần nhiều đã bị hòa lẫn với nhựa thầu dầu tươi, bởi vậy mà trúng độc.”

Nàng lại chỉ ra cửa:

“Xác chuột nằm giữa cửa phòng của Ngu công tử và Tiết Trạm, song mấy ngày nay chưa từng nghe họ nói bị mê man buồn ngủ. Trái lại, lời khai của Viên Diễm khiến ta chợt thấy điều lạ.”

Bùi Yến chăm chú nhìn nàng, Khương Ly trầm giọng:

“Nếu ta nhớ không nhầm, đêm hai mươi tám, sau cơn sấm sét, Viên Diễm bị đánh thức, ngồi dậy trằn trọc một lúc rồi không biết sao lại ngủ thiếp đi. Hắn nói là quá mệt, nhưng nếu chẳng phải vì mệt, mà là do dầu đèn bị hạ độc thì sao? Đêm ấy, phần lớn các học sinh đều tỉnh dậy giữa chừng, chỉ riêng hắn ngủ một mạch đến sáng. Hắn bảo mình mê man, chẳng phân nổi mộng hay thật —— nếu đó là độc của hạt thầu dầu, thì đúng là triệu chứng ấy.”

Bùi Yến nhìn ba ngọn đèn dầu, khẽ hỏi:

“Dầu đèn bị hạ độc… Trong phòng hắn có ba ngọn: hai trên án thư, một ở đầu giường. Giờ có thể tìm được dấu vết hạt thầu dầu trên đó không?”

Khương Ly lắc đầu:

“Ta đã kiểm tra, không còn. Dầu đèn đêm ấy đã cháy hết, sau đó lại thay dầu mới, nên độc vật cũng tan biến gần như sạch.”

Ninh Quắc lấy làm khó hiểu:

“Vậy chất độc hạ ở đâu? Nếu là ở đèn trên án thư, thì khi hắn ngồi đọc sách, chẳng phải vừa thắp đèn đã mê đi sao?”

Khương Ly gật đầu:

“Đúng vậy, cho nên khả năng lớn nhất là bị hạ trong ngọn đèn ở đầu giường.”

Ninh Quắc suy tư:

“Nếu là đèn đầu giường, vậy chỉ có người thân cận mới có cơ hội ra tay.”

Bùi Yến nhìn quanh bố cục trong phòng:

“Kẻ giết người hẳn đã tính sẵn việc ra tay đêm hai mươi tám, nên từ trước đó đã hạ độc, khiến Viên Diễm — người dễ nghe thấy động tĩnh nhất — rơi vào cơn hôn mê. Nhưng dẫu vậy, khi hắn kéo Phó Hoài Cẩn rời học xá, động tĩnh chắc không nhỏ, khó đảm bảo không ai khác phát giác.”

Khương Ly khẽ gật:

“Đúng thế, hung thủ hẳn còn có thủ đoạn khác mà ta chưa khám phá ra.”

Bùi Yến nói tiếp:

“Danh sách đêm qua đã tra xong. Ở phía nhà bếp, lúc lấy nước dập lửa có ba mươi người. Đối chiếu dấu chân, có chín người để lại vết giống trong trúc lâm, trong đó có cả Cung thẩm, Vân thẩm, Hà thúc ở dược phòng, Uông Đại Thành ở cổng bắc. Trong đám học sinh có năm người, gồm cả Hồ Tu Văn và Liễu Nguyên Gia. Nhưng trong số họ, chẳng ai có thể kéo nổi cung tam thạch cả.”

Khương Ly cau chặt mày:

“Sao lại như vậy?”

Bùi Yến đáp:

“Đến nước này, chỉ còn một khả năng — trong thư viện có hai kẻ đồng mưu. Kẻ giương cung phá đá và kẻ dùng sáo gỗ dụ Lâm Mục Chi đi không phải cùng một người. Hai tên này giấu mình trong học xá, phối hợp cùng nhau, khiến chúng ta bị đánh lạc hướng.”

Ninh Quắc liền nói:

“Chưa biết chừng còn có ba người!”

Khương Ly lắc đầu:

“Phó Tông Nguyên và Lâm Mục Chi đều từng gặp thúc phụ của Phạm Trường Hựu, không thể là hắn. Khả năng cao là phụ thân và đường huynh của hắn mới phải.”

Nói đến đây, nàng lại nhìn sang Bùi Yến:

“Vụ của Đông Phương Gia Thụ và Ngụy Thanh Dương có chút manh mối nào không?”

Nếu hung thủ là cùng một người, ắt hẳn hai vụ án trước cũng có điểm tương thông.

Bùi Yến nhớ lại:

“Đông Phương Gia Thụ bị chặn cướp giữa đường, ba ngày sau mới tìm thấy thi thể. Hiện trường cùng con đường hắn bị cướp không có dấu vết đáng kể. Nha môn địa phương điều tra suốt hai tháng, duy nhất khả nghi là nửa tháng trước khi xảy án, có một cặp mẫu tử đến phố gần thư viện buôn bán, sau khi vụ án phát sinh thì biến mất không tung tích.”

Ngừng lại một thoáng, hắn nói tiếp:

“Còn Ngụy Thanh Dương chết trong săn trường của nhà hắn, lúc ấy là cuối thu mưa dầm, dấu vết trên núi bị cuốn trôi, chẳng tìm được gì. Quan phủ hỏi dân quanh vùng, có người nói mấy hôm trước thấy có thợ săn và một thiếu niên đào dược lên núi, nhưng núi ấy thú nhiều cỏ thuốc dồi dào, kẻ lên núi vốn chẳng hiếm. Họ tìm hai tháng vẫn không có nhân chứng nào khác.”

Ninh Quắc nhíu mày:

“‘Mẫu tử’ ư? Đường huynh của Phạm Trường Hựu đã lớn, sao lại có mẫu tử ? Còn ‘thợ săn’ hay ‘đào dược’ chẳng chỉ rõ được gì cả, nha môn nơi đó quả thực không biết điều tra án!”

Bùi Yến gật đầu:

“Đúng thế, vì vậy mà cả hai vụ đều thành án treo.”

Thấy Khương Ly vẫn chau mày, Bùi Yến khẽ nói:

“Nếu quả có hai kẻ gây án, thì trong danh sách đêm qua hẳn có một đồng bọn. Giờ cứ theo đó mà tra tiếp. Lại thêm manh mối từ đèn dầu, hãy bắt đầu từ những người thấy được sự việc đêm hai mươi tám mà lần.”

Khương Ly gật đầu:

“Còn độc thầu dầu, ta sẽ đến dược phòng tra một chuyến.”

Bùi Yến nhận lệnh, trước tiên sai người đi tra hỏi mấy người ở phòng bên của Ngu Tử Khiêm, còn Khương Ly thì liếc nhìn mấy ngọn đèn dầu, xoay người bước ra ngoài.

Nàng vừa đi vừa ngước mắt nhìn mái hiên trên đầu, thấy xà gỗ, đấu củng giao nhau tầng tầng lớp lớp, chợt nhớ đến lời Ngu Tử Khiêm từng nói — trước đây cũng từng phát hiện chuột chết. Nghĩ vậy, lòng nàng thoáng lạnh, e rằng trên mái cao kia còn ẩn giấu thêm vài xác chuột khác. Ý nghĩ ấy khiến trong ngực sinh ra cảm giác khó chịu, nàng liền bước nhanh xuống lầu, thẳng đường hướng về dược phòng.

“Hạt thầu dầu?” — Hà thúc nghe vậy có phần kinh ngạc — “Cô nương tìm thứ ấy làm gì? Loại cây đó mọc đầy ở triền tây sau núi, năm nào ta cũng hái được không ít.”

Vừa nói, ông vừa kéo ngăn tủ, lấy ra một gói hạt đã sao vàng:

“Cô nương xem, đây là hạt đã chế.”

Khương Ly mỉm cười:

“Vậy ở đây có hạt thầu dầu chưa chế không?”

Hà thúc bật cười:

“Ấy là không có. Loài thầu dầu dại mới vừa kết quả, còn xanh chưa chín, ít nhất phải sang tháng sau mới hái được. Huống chi hạt sống có độc, người hiểu chút dược lý đều biết, không ai dám giữ.”

Nghe vậy, Khương Ly đã hiểu ra, đành cáo từ rời dược phòng.

Vừa bước ra khỏi cổng viện, Hoài Tịch liền thở dài:

“Cô nương, vậy hẳn là hung thủ tự mình hái rồi?”

Khương Ly gật đầu:

“Người đã có thể phát hiện sơn động kia, tự nhiên cũng biết nơi hái thuốc…”

Nói chưa dứt lời, liền thấy trên lối đá xanh phía trước có hai người đi tới — chính là Vân thẩm và Cung thẩm. Hai người thoạt trông đều ngạc nhiên, Cung thẩm tính tình nhiệt hậu, lập tức mỉm cười:

“Cô nương sao lại ở đây?”

Khương Ly đáp:

“Ta vừa đến gặp Hà thúc, hỏi ít việc. Còn hai người?”

Cung thẩm liếc nhìn Vân thẩm, thở dài:

“Cô nương không biết đấy thôi, ta với Vân thẩm đều là người mang bệnh cũ cả. Ta thì đau đầu gối, nàng ấy thì đau lưng. Đêm qua cứu hỏa, hai ta bưng chậu gỗ, chạy tới chạy lui mấy bận. Sáng nay dậy, đầu gối ta đau như kim châm, còn Vân thẩm thì lưng cứng đờ, duỗi cũng chẳng nổi. Cơm sáng dọn xong, bọn ta đến chỗ Lão Hà xin ít cao dán.”

Nói đoạn, Cung thẩm hơi khuỵu chân phải một cách bất thường, còn Vân thẩm thì lưng cong, mặt nhăn nhó, trông rõ ràng đau đớn. Khương Ly thấy vậy liền nói:

“Nếu hai vị không ngại, để ta xem giúp một chút.”

Cung thẩm vui mừng khôn xiết:

“Thật sao? Vậy thì phiền cô nương quá! Ai ai cũng nói cô nương là danh y của Trường An, được cô chữa trị thì chúng ta thật có phúc rồi.”

protected text

Khương Ly liền quay lại dược phòng, Hà thúc nghe chuyện, cũng cảm kích nói:

“Chúng đều là bệnh lâu năm, ta chỉ là nửa thầy nửa thuốc, mấy cao dán kia đều chép phương người khác, sao sánh được với cô nương.”

Trong phòng có ghế dài, Khương Ly mời hai người ngồi xuống, xem mạch, rồi kiểm tra đầu gối và thắt lưng. Quả nhiên đều là bệnh cũ đã nhập sâu. Nàng mượn Hà thúc bộ kim châm, châm mấy huyệt cho mỗi người, sau đó viết phương thuốc.

“Đầu gối của Cung thẩm có sưng nóng, ấn vào đau, chứng tỏ dưới da có kết tiết; xem lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch trơn sác — ấy là phong nhiệt tý. Trị phải sơ phong, thanh nhiệt, lợi thấp, trừ tý.”

Vừa nói, nàng vừa viết, thoắt chốc đã đủ mười vị dược liệu.

Khi xem lại, ánh mắt nàng dừng trên một vị thuốc, khẽ nhíu mày, suy nghĩ giây lát rồi đổi đi:

“Vị ‘Uy Linh Tiên’ này khó kiếm, thay bằng cành dâu ba tiền, sắc nước uống mỗi ngày một lần. Uống bảy ngày khớp sẽ bớt sưng, đau giảm. Nửa tháng sau khỏi được bảy tám phần, khi ấy thêm thương truật và hoàng bá năm tiền, uống tiếp sẽ giữ được hai năm không tái phát.”

Cung thẩm vui mừng không ngớt:

“Tốt quá! Mỗi tháng đầu gối ta đau hai lần, mùa đông càng khổ, nếu thật khỏi được hai năm, thì cô nương chính là ân nhân cứu mạng ta!”

Sau khi cảm tạ không ngừng, Khương Ly lại viết phương khác cho Vân thẩm:

“Lưng thẩm đau đã hơn mười năm, do khí huyết ứ trệ, kinh lạc tắc nghẽn, can thận hư suy; ta trị bằng phép hoạt huyết, thông lạc, điều bổ can thận.”

Nàng viết bốn vị thuốc, nói thêm:

“Lấy phương Địa long tán mà gia giảm — thêm ma hoàng, hoàng bá, nguyên hồ, ô dược, sắc uống mỗi ngày một thang, dùng trước bữa ăn.”

Vân thẩm gật đầu, Khương Ly lại dặn:

“Bệnh đã nặng, nếu không chữa, e sau này phải nằm liệt. Ngoài thuốc uống, ta kê thêm hai phương thuốc dán, thẩm chọn một mà dùng.”

Nói rồi nàng viết tiếp:

“Phương thứ nhất: đương quy, phòng phong, ngưu tất, quế chi, xích thược, khương hoạt, ngũ gia bì, uy linh tiên, ngải diệp — cho tất cả vào túi vải, sắc nước, khi còn ấm thì đắp lên chỗ đau, mỗi ngày một lần.

Phương thứ hai: ngô thù du, hắc phụ tử, nhục quế, can khương, xuyên khung, thương truật, độc hoạt, khương hoạt, uy linh tiên, thổ quyển trùng, toàn trùng, hồng hoa, táo giác — tán nhỏ, hòa với nước gừng hoặc rượu làm cao, đắp ngoài.”

Viết xong, Khương Ly cau mày:

“Trong đó có vài vị khó kiếm, nhưng bệnh này nặng, không dùng không được. Hà thúc, chỗ ông còn Uy Linh Tiên, hồng hoa, toàn trùng chăng?”

Hà thúc đáp:

“Toàn trùng còn ít, chứ Uy Linh Tiên với hồng hoa thì hết rồi.”

Khương Ly khẽ thở dài:

“Vậy đành đổi sang Tần giao, Hải phong đằng và xích thược, tuy hiệu kém hơn, nhưng kiên trì dán cũng khỏi được phần nhiều.”

Vân thẩm nhận phương, cảm tạ rối rít.

Sau khi khám xong, Khương Ly rời khỏi dược phòng. Nhưng vừa ra đến cổng, nàng bỗng khựng lại, ngoái đầu nhìn, khiến Hoài Tịch ngạc nhiên:

“Cô nương, sao vậy?”

Khương Ly khẽ than:

“Lạ thật, cả hai phương thuốc của họ… đều cần dùng đến Uy Linh Tiên.”

Thấy Hoài Tịch chưa hiểu, nàng đành kể chuyện năm xưa chữa thương cho Bùi Yến. Hoài Tịch nghe xong thất kinh:

“Nghĩa là trên vách đá ấy mọc Uy Linh Tiên? Giờ còn kịp hái không?”

Bạn đang đọc truyện tại rungtruyen.com. Chúc vui vẻ!!!

Khương Ly lắc đầu:

“Vách đá hiểm trở lắm. Nếu chỉ thiếu duy nhất một vị thì còn có thể mạo hiểm, nhưng nay thiếu đến mấy thứ, dùng thuốc phối cũng chẳng đòi hỏi riêng vị ấy nữa. Năm đó Bùi Yến bị thương, mới cần đến nó cho bằng được.”

Hoài Tịch hiểu ý, bèn thôi.

Khương Ly vốn có ý kiểm tra hài cốt, liền trở lại giảng đường. Song hơn trăm khúc xương đã tra hết, mà lòng nàng vẫn chưa giải được nghi. Nghĩ ngợi một hồi, nàng ra khỏi giảng đường, đi thẳng về phòng tắm——

Từ sau khi phát hiện thi thể của Phó Hoài Cẩn bị đốt trong lò tắm, hai ngày nay trước phòng tắm đều có võ vệ canh giữ.

Khi Khương Ly bước vào, việc đầu tiên nàng nhìn thấy là mấy dải thịt muối treo lủng lẳng trên lò, rồi nàng cúi xuống, nghiêng người nhìn vào hốc lò.

Để moi ra toàn bộ xương cốt, năm miệng lò lớn ấy đều đã được vét sạch, chỉ thấy miệng lò chừng nửa thước vuông, lòng trong rỗng rộng, đủ để chứa phần đầu và ngực bụng người. Khương Ly càng nhìn càng lấy làm lạ:

“Lò lớn thế này, đầu mình hay ngực bụng đều có thể cho vào. Tuy rằng khó mà đốt hết, song thời gian phân thây càng dài thì càng dễ để lộ sơ hở. Trong thư viện người đi lại không ngớt, hung thủ lấy tâm thái nào mà có thể bình thản đem thi thể cắt vụn từng phần như thế?”

Hoài Tịch nói nhỏ:

“Nếu là hai kẻ đồng mưu, vậy chẳng phải đơn giản hơn sao?”

Khương Ly lắc đầu:

“Nhưng chỉ mất một con dao chặt củi mà thôi.”

Nàng nói dở, chợt khựng lại:

“Con dao ấy mất vào cuối tháng Giêng…”

Nói rồi, nàng đứng bật dậy, rời khỏi phòng tắm, ánh mắt dừng ở căn phòng dưới lầu – nơi từng phát sinh nạn sâu mọt.

“Sâu mọt xảy ra vào tháng Giêng, dao chặt củi cũng mất tháng Giêng. Tức là hung thủ đã chuẩn bị giết người từ khi ấy. Mà bao công phu sắp đặt này, rõ ràng nhắm vào Phó Hoài Cẩn và Viên Diễm bọn họ…”

Nàng còn đang lẩm bẩm, bỗng cất tiếng gọi:

“Cung thúc! Phiền người thắp giúp ta một bó đuốc, lại mang ít tro than đến!”

Lời còn chưa dứt, từ sân bếp phía tây vang lên tiếng kêu thống khổ của Hồ Tu Văn. Khương Ly giật mình, bước nhanh tới hỏi:

“Hồ công tử? Sao lại cần đuốc?”

Hồ Tu Văn thấy là Khương Ly, vội hành lễ:

“Khương cô nương, khiến cô chê cười rồi. Là… nhà xí phía nam, dạo này muỗi giòi bọ thối rữa nhiều quá, đi một chuyến cứ như hành khổ, thật là bất tiện cho người đọc sách—”

Nói đến chuyện dơ bẩn ấy, hắn đỏ cả mặt.

Khương Ly nghe xong thì lấy làm lạ:

“Giòi bọ? Dạo này có mưa, trời lại chưa nóng, sao tự nhiên sinh nhiều thế?”

Hồ Tu Văn cũng ngạc nhiên:

“Ta cũng chẳng biết. Là cái buồng ngoài cùng phía nam đó, vốn ẩm thấp, chẳng ai ưa dùng, trừ lúc người quá đông. Ta mấy hôm rồi không đến, nay vừa bước vào đã suýt nôn.”

Cung thúc từ trong bếp đi ra, cầm bó đuốc và thúng tro than:

“Tro than ta mang đây, để ta cùng đi xem.”

Khương Ly chợt hỏi:

“Trong đám muỗi bọ đó, có mặc văn không?”

Hồ Tu Văn lắc đầu:

“Không có. Thư viện từng bị loài đó gây hại, ta biết nó độc thế nào. Trong nhà xí chỉ là muỗi ruồi thường, nhưng quả thật quá nhiều, nên định đốt khử đi.”

Hắn nói rồi đón lấy bó đuốc, Khương Ly ngẫm một lát, rồi nói:

“Ta đi cùng ngươi.”

Hồ Tu Văn giật mình:

“Cô nương, nơi đó…”

Phía nam học xá có chín gian nhà xí, mỗi gian đều riêng biệt, vốn đủ cho mọi người dùng. Nhưng dù thế, đó cũng là chỗ ô uế, chẳng hợp để tiểu thư nhà quyền quý như Khương Ly đặt chân đến.

Thấy hắn còn ngập ngừng, Khương Ly chỉ khẽ cười:

“Không sao, ta là thầy thuốc, chuyện dơ bẩn nào mà chưa thấy.”

Hồ Tu Văn đành đi trước dẫn đường. Hai người qua khỏi sân bếp, men theo lối nhỏ về phía nam, chẳng bao lâu đã đến nơi.

Dù trước nhà xí cũng có trúc và hoa cỏ, nhưng rốt cuộc vẫn là nơi chứa uế vật; mùi hôi tanh vừa tới gần đã xộc thẳng lên, càng đi càng nặng.

“Chính là gian này.” – Hồ Tu Văn chỉ.

“Góc này ẩm thấp, vốn đã nhiều muỗi, nên chẳng ai muốn tới. Vừa rồi ta đến, trong đó ruồi bọ bay như mây, hố phân bên trong… ôi, nhìn không nổi. Cô nương, người—”

Hắn vừa nói vừa nhăn mặt, chỉ nghĩ tới thôi cũng buồn nôn, huống chi một cô nương như nàng.

Khương Ly dùng khăn tay che mũi miệng:

“Không sao, vào đi.”

Hồ Tu Văn giơ bó đuốc bước trước. Lửa vừa thắp, đã thấy ruồi muỗi rơi rào rào xuống đất, đen đặc một mảnh. Khương Ly vào theo, nhìn thấy sàn toàn xác côn trùng, càng xem càng cau mày, rồi cúi nhìn hố phân, chỉ thấy trắng lóa một mảnh, đến mức nàng cũng không kìm nổi nôn khan.

Nàng vội lui ra ngoài hít thở, Hoài Tịch ở cạnh vừa lo vừa thương, Cung thúc thì cũng mờ mịt, chỉ vào bên trong, đổ hết tro than đỏ vào hố.

Một lát sau, Hồ Tu Văn bước ra, mặt đầy lúng túng:

“Khương cô nương, ta đã khuyên người đừng vào, thật khiến cô chịu khổ. Hay là người nghỉ chút—”

Khương Ly gắng trấn tĩnh, lập tức hỏi:

“Trước nay chưa từng như thế?”

Hồ Tu Văn đáp nhanh:

“Tất nhiên là chưa. Nơi này cuối tháng nào cũng có tạp dịch quét dọn, mấy gian khác sạch sẽ lắm. Ta không hiểu sao nay lại thành ra vậy.”

Khương Ly ôm ngực, ngẩng đầu, chỉ thấy trên mái nhà xí cũng có vô số ruồi muỗi bay loạn, khác hẳn lần đầu nàng đến tra xét quanh đây.

Nàng biến sắc:

“Ruồi muỗi từ lúc đẻ trứng đến khi trưởng thành ít nhất cũng phải năm sáu ngày. Vậy mà hôm nay lại bỗng dưng bùng phát, chứng tỏ… trong hố có thứ cực dễ thối rữa bị ném vào!”

Hoài Tịch phản ứng rất nhanh:

“Lẽ nào là mảnh thi thể? Nhưng… chẳng phải thi thể đã bị thiêu hết rồi sao? Hay là… để ta vào xem thử?”

Nàng vừa định đi, Khương Ly đã kéo lại, giọng nghiêm:

“Không được.”

Rồi quay sang Cung thúc:

“Phiền người mời Bùi thiếu khanh đến ngay cho ta.”

Vừa nghĩ lại cảnh tượng khi nãy, Khương Ly vẫn thấy dạ dày cuộn lên từng cơn. Cung thúc vâng lệnh đi mời người, Hồ Tu Văn và Hoài Tịch liếc nhìn nhau, rồi không nhịn được mà nói khẽ:

“Thi… thi thể ư? Hay mảnh thi thể? Chuyện đó chắc không thể đâu, cô nương đừng dọa ta…”

Khương Ly lắc đầu:

“Không,chẳng lẽ là. Hung thủ không cần phải chia hai nơi.”

Sắc mặt nàng tái nhợt, hít sâu một hơi, bình tĩnh nói:

“Không sao, ngươi đi làm việc đi. Có lẽ ta đã nghĩ quá nhiều. Ta ở đây chờ Bùi thiếu khanh tới là được.”

Hồ Tu Văn gượng cười, rồi vội vã rời đi.

Bọn họ vừa đi, nét ôn hòa trên mặt Khương Ly lập tức biến mất, chỉ còn lại vẻ trầm lạnh. Hoài Tịch bịt miệng mũi, thấp giọng hỏi:

“Cô nương, có khi nào chỉ là do chỗ này ít dọn dẹp, nên bẩn quá mà sinh ra thế thôi?”

Khương Ly khẽ lắc đầu:

“Không. Ta dám chắc trong đó có vật bị ném vào.”

“Nhưng cũng chẳng phải thi thể chứ? Hung thủ không có lý do gì mà lại chia ra vứt.”

Khương Ly gật đầu:

“Đúng vậy, không phải thi thể. Xác người có thể bị đốt, quần áo dính máu cũng có thể bị thiêu. Hung thủ cố tình ném vật đó vào nhà xí, nhất định là vì thứ ấy không thể đốt được.”

Hoài Tịch nghe mà mơ hồ, muỗi vo ve bên tai khiến người càng thêm khó chịu.

May thay, Bùi Yến và Ninh Quắc đến rất nhanh.

Bùi Yến hỏi:

“Nghe nói ở đây xuất hiện rất nhiều ruồi muỗi?”

Khương Ly gật nhẹ, chỉ cằm về phía trước:

“Vào xem đi. Đám ruồi bọ này sinh trưởng quá lạ, ta nghi trong hầm phân có thứ ô uế nào đó bị ném vào.”

Bùi Yến và Ninh Quắc bước nhanh vào.

Chưa đến một khắc, Ninh Quắc đã ôm miệng chạy ra, lao tới bồn hoa bên cạnh mà nôn khan không ngớt.

Trong khi đó, từ bên trong vọng ra giọng trầm thấp của Bùi Yến:

“Người đâu——”

Cửu Tư từ sau khi theo Bùi Yến vào Đại Lý tự, chuyện nặng nhọc gì cũng từng làm qua, nhưng hắn chưa bao giờ nghĩ có ngày mình phải vớt hầm phân.

Đang rên rỉ khổ sở thì nghe có tiếng võ vệ kêu lên:

“Đại nhân! Vớt được rồi!”

“Hình như là… một con dao, dao chặt củi——”

Dao được rửa sạch, đặt trước mặt mọi người.

Chỉ thấy lưỡi dao sứt mẻ, chỗ nào chỗ nấy lượn lên những vết nứt cuộn ghê rợn, khiến ai nấy rùng mình.

Ninh Quắc còn đang choáng váng, bụm mũi nói khàn khàn:

“Đây… chính là con dao bị mất kia sao? Hung thủ ném dao dính máu vào hố phân, nên mới sinh ra đám ruồi muỗi này? Ợ… trời ơi…”

Hắn chưa từng gặp cảnh nào kinh tởm đến thế, đám người xung quanh cũng đều nén buồn nôn mà chịu đựng.

Không lâu sau, Phương Thanh Diệp và Tề Tế Xương nghe tin cũng vội đến.

Tề Tế Xương vừa nhìn đã khẳng định:

“Không sai! Dao này đúng kiểu dáng loại mua vào cuối tháng Giêng!”

Tuy đã xác nhận được, song Bùi Yến vẫn ngẩng đầu nhìn mái nhà xí, trầm giọng:

“Tìm được hung khí thì tốt, nhưng chỉ một con dao dính máu, lẽ ra không thể sinh nhiều ruồi muỗi đến vậy, chắc chắn còn có vật khác chưa được phát hiện.”

Cửu Tư mở tay ra:

“Chúng ta đã vớt khắp lượt rồi, thứ khác chắc đã phân hủy cả.”

Phương Thanh Diệp cũng lạnh sống lưng:

“Vậy thì… hung thủ thật sự dùng dao này để phân thây nạn nhân? Nhưng chẳng phải từng nói hắn giết người để trả thù cho Phạm Trường Hựu sao? Mà Phạm Trường Hựu vốn không hề bị phân thây, sao lại tàn độc đến thế—”

Lời còn chưa dứt, Bùi Yến và Khương Ly đồng thời biến sắc.

Hai người gần như đồng thanh nói ra một câu:

“Rút máu!”

“Rút máu!”