Hạc Lệ Trường An

Chương 142: Biến mất vô tung



Ngươi nói gì?! Xảy ra án mạng ư?!”

Tiết Kỳ giật mình biến sắc, Diêu thị cũng thất thần thốt lên:

“Thế tử, là ai gặp chuyện vậy?”

Bùi Yến đáp:

“Trong thư viện có người mất tích, hơn phân nửa khả năng là đã gặp nạn. Nhưng người đó không phải Tiết Trạm, hai vị chớ nên hoảng hốt.”

Giọng hắn dồn dập, lời dứt liền quay sang Khương Ly nói tiếp:

“Vị tiên sinh mà ta nói chính là Tuân Sơn tiên sinh. Vì việc này mà ông kinh hãi, bệnh cũ tái phát, tình thế khá nguy kịch, xin Tiết cô nương lập tức đến xem một chuyến.”

Khương Ly vội bước lên, hỏi:

“Lên đường ngay ư?”

“Ngay bây giờ.” Bùi Yến gật đầu.

“Được, ta đi lấy hòm thuốc, đợi ta một lát.”

Nàng nói xong liền rảo bước đi, Bùi Yến lại nhắc:

“Trên núi gió lạnh.”

“Biết rồi—”

Khương Ly không ngoảnh lại, dứt câu đã ra khỏi tiền viện trong chớp mắt.

Tình thế rõ ràng chẳng cần Tiết Kỳ cho phép. Ông sững người, liền hỏi:

“Linh nhi… à không, Bùi thế tử, rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì? Người mất tích là ai? Sao lại nói có khả năng gặp hại, ý ngươi là… người ấy vẫn chưa chết?”

Bùi Yến trầm giọng:

“Kẻ mất tích là Phó Hoài Cẩn, con trai của Lại bộ thị lang Phó Tông Nguyên. Sáng nay hắn đột nhiên biến mất, người trong thư viện đã tìm cả ngày không thấy tung tích. Trong phòng để lại dấu vết máu, nghi là gặp chuyện chẳng lành, song chưa tìm thấy thi thể nên chưa thể kết luận. Thầy vốn định trình báo quan phủ, nhưng thân phận Phó Hoài Cẩn không tầm thường, nên trước tiên sai người đến thỉnh ta lên núi tra xét. Hiện bệnh tình của thầy cũng vô cùng nguy cấp.”

Nghe người chết không phải Tiết Trạm, cả ba người nhà họ Tiết đều nhẹ nhõm một hơi. Tiết Kỳ nói:

“Thì ra là con của Phó thị lang. Nếu chỉ mất tích, e vẫn còn hi vọng, chỉ mong người vô sự. Bên Phó thị lang đã được báo chưa?”

Bùi Yến gật đầu:

“Ta đã phái người đi truyền tin, hẳn đêm nay họ cũng sẽ lên núi.”

Diêu thị nghe vậy thì kinh hãi:

“Lão gia, thật đáng sợ! Bạch Lộ sơn thư viện từ trước đến nay quản thúc nghiêm cẩn, sao một người sống sờ sờ lại có thể mất tích chứ? Liệu Trạm nhi có gặp nguy hiểm không? Lão gia, hay là ông cũng nên lên núi sớm một chút?”

Tiết Kỳ nhíu mày:

“Việc này… nhưng ta vẫn chưa chuẩn bị—”

Diêu thị liền nói:

“Thiếp thân lập tức đi sắp xếp!”

Nói rồi bà quay người rời đi. Tiết Kỳ ngẫm ngợi giây lát, cuối cùng không nói thêm.

Chưa đầy nửa nén nhang sau, Khương Ly cùng Hoài Tịch đã trở lại. Nàng thay y phục mới – váy gấm văn tân di màu liễu thanh, khoác thêm áo choàng lan văn sắc ngâu hồng; Hoài Tịch mang theo hòm thuốc, trên người cũng thêm một chiếc ngắn áo vàng nhạt.

“Đã chuẩn bị xong, chúng ta đi thôi.”

Khương Ly dứt lời, mới quay sang Tiết Kỳ nói:

“Phụ thân, con cùng Thế tử lên núi trước cứu người, phụ thân cứ thong thả theo sau.”

Tiết Kỳ trong lòng muôn phần phức tạp, song việc gấp gáp, ông chỉ dặn:

“Con lên núi trước xem tình hình của đệ con thế nào, phụ thân sẽ theo ngay sau đó.”

Khương Ly khẽ gật, liền xoay người đi ra cổng viện.

Ra khỏi phủ, thấy đoàn người của Bùi Yến đều cưỡi ngựa, nàng lập tức lên xe, dặn Trường Cung giục ngựa đi nhanh.

Khi xe bắt đầu chuyển bánh, Bùi Yến thúc ngựa đến bên xe nàng. Chờ Khương Ly vén rèm, hắn nói:

“Nửa canh giờ trước, người thân cận của thầy ta đã đến phủ—”

Khương Ly chăm chú lắng nghe, hắn nói tiếp:

“Hai ngày trước, Phó Hoài Cẩn – con trai mười tám tuổi của Lại bộ thị lang Phó Tông Nguyên, vì mùa xuân khảo thí sắp đến nên ở thư phòng đóng cửa ôn bài. Đến sáng nay, bạn đồng học thân thiết không thấy hắn ra ngoài, bèn tới gõ cửa rủ ra dạo cho khuây khỏa, nhưng gõ mãi vẫn chẳng có động tĩnh. Cảm thấy bất an, bèn đi báo phu tử. Phu tử sợ hắn trong phòng xảy ra chuyện, liền sai người phá cửa vào, nào ngờ trong phòng trống không, cửa sổ khóa chặt từ bên trong, chẳng những người mất, mà trên tấm thảm còn vương vài vệt máu.”

Khương Ly kinh ngạc hỏi:

“Là biến mất vô tung thật sao?”

“Cô cũng biết kiến trúc thư viện rồi đó. Hắn ở tầng hai, tận cùng gần Đình Thính Tuyền. Cửa do hắn tự khóa, cửa sổ bên trong cũng bị đóng chốt, quả thật như biến mất giữa không trung. Từ khi phá cửa đến giờ, toàn viện trên dưới hơn trăm người đã lục soát hai ba canh giờ, trong ngoài đều không có dấu vết, nên thầy mới cho rằng hắn có thể đã gặp nạn.”

Nghe xong, Khương Ly cảm thấy cực kỳ kỳ quái:

“Chuyện này quá đỗi ly kỳ… một người đang yên lại có thể biến mất không dấu ư? Còn máu kia, đã tra rõ chưa?”

Bùi Yến đáp:

“Vết máu trên thảm có dấu bắn tung, nhưng lượng máu không nhiều, hẳn chỉ là thương nhẹ. Dựa vào lượng máu đoán thì người vẫn an toàn, nhưng cách hắn rời khỏi phòng quả thật khó giải thích.”

Nghe xong toàn bộ sự tình, Khương Ly ngẩng nhìn màn đêm mịt mùng ngoài cửa sổ, trầm mặc hồi lâu rồi nói khẽ:

“Không thể nào vô cớ mà biến mất được. Trong thư viện người đông lại nghiêm ngặt, nếu hắn bị thương thì càng không thể lặng lẽ rời đi. Đa phần, người ấy vẫn còn trong thư viện.”

Lời vừa dứt, gió xuân lạnh lẽo xuyên qua màn đêm khiến hai người bất giác rùng mình. Một nam tử trẻ tuổi sống sờ sờ, nếu thật còn ở trong thư viện, sao có thể tìm khắp nơi mà không thấy? Mà đã tìm khắp vẫn không thấy, thì chỉ còn một khả năng chẳng lành mà thôi…

Bạch Lộ sơn nằm ở phía tây nam Trường An, từ trong thành đi tới thư viện phải mất chừng ba canh giờ. Lúc này trời đã gần sang canh Tý, e khi đến nơi cũng là lúc hừng đông. Ra khỏi thành lên quan đạo, Bùi Yến liền bảo giảm tốc độ xe, nói với Khương Ly và Hoài Tịch trong xe:

“Giờ hãy còn sớm, hai người cứ nghỉ ngơi tạm để dưỡng thần.”

Dứt lời, hắn lại căn dặn Trường Cung:

“Hai hôm nay trên núi mưa lớn, lát nữa vào đường núi không cần gấp gáp, an toàn là trước hết.”

Trường Cung đáp vâng, mắt dõi chăm chăm về phía trước, không dám lơi lỏng nửa phần.

Bùi Yến dẫn đầu, người ngựa cầm đuốc mở lối; xe ngựa của Tiết phủ theo sau. Khi tới chân Bạch Lộ sơn thì đã sang canh Sửu. Trên quan đạo còn dễ đi, nhưng khi rẽ vào đường núi thì đất trơn bùn dính, gió đêm từ rừng thổi ra lạnh thấu xương. Khương Ly vén rèm, nhìn con đường quanh co hun hút mà ngẩn người.

Bạch Lộ sơn địa thế hiểm trở, thư viện nằm giữa lưng chừng núi, tựa sơn hướng thủy, cảnh sắc linh tú, phong thủy tuyệt hảo — từ xưa đã là chốn lý tưởng để tĩnh tâm học đạo. Càng lên cao, gió đêm càng rét, hoa cỏ trong rừng cũng chỉ vừa hé mầm non, chỉ có tùng trúc bốn mùa xanh biếc vẫn thâm u rậm rạp.

Khương Ly dựa vào vách xe dưỡng thần, đến nửa đêm mới chợp mắt được chốc lát. Khi nghe tiếng chim sớm hót giữa rừng, nàng mở mắt, thấy trời phía đông vừa nhuốm một dải xám xanh; sương mờ lượn lờ, xa xa đỉnh mái cong nhọn chen chúc, chính là nơi thư viện tọa lạc. Tinh thần nàng phấn chấn, vén rèm cho làn gió mang hương cỏ cây mát lạnh lướt qua mặt.

“Cô nương, sắp đến rồi ư?”

Hoài Tịch ló đầu ra hỏi. Khương Ly khẽ “ừ” một tiếng, mắt không rời cảnh trước mặt:

“Thấy tòa lầu mái nhọn kia không, đó là tàng thư lâu của thư viện, sắp đến rồi.”

Bảy năm ròng xa cách, nay trở lại cố địa, lòng nàng không khỏi xao xuyến. Nhìn cổng ngói tường quen thuộc, bao ký ức cũ ào ạt dâng về. Đến khi xe dừng hẳn, nàng mới bừng tỉnh.

Vừa bước xuống, đã thấy Bùi Yến đứng chờ sẵn nơi bậc thềm. Ánh mắt hai người chạm nhau, dường như đều thoáng bận lòng bởi hồi ức quá khứ. Khương Ly lấy lại bình tĩnh, theo hắn tiến về phía cổng lớn.

Bạch Lộ sơn thư viện dựng theo sườn núi, kiến trúc quy củ uy nghi. Cổng chính nằm trên mười bậc đá, năm gian mái cứng, trước có tường bình phong ba đỉnh, đặt đôi sư tử đá chầu hai bên. Tường trắng ngói xanh, đầu ngói gắn men lưu ly, đầu đòn dầm chạm khắc mây xoắn, long phi phượng múa, khí thế trang nhã đường hoàng. Tấm hoành phi “Bạch Lộ sơn thư viện” chữ sắt nét bạc do Đức Hưng đế ban tặng vào năm Đức Hưng thứ chín. Từ đó, thư viện vang danh khắp thiên hạ.

Sau cổng chính là Nhị môn, năm gian mái đơn, giữa ba gian mở ba cửa, khung đá hoa cương, hai bên thông đạo dẫn tới Nam và Bắc nhị trai. Qua cửa thứ hai, chính là trung tâm thư viện – khu giảng đường và học xá.

Bạch Lộ sơn thư viện vốn nổi tiếng kỷ luật nghiêm minh, nay lại xảy ra chuyện mất tích, nên trên dưới càng không dám lơ là. Vừa qua cổng, người gác cửa đã chạy ra đón, nhận ra Bùi Yến liền hành lễ rồi vội chạy vào báo tin.

Chẳng bao lâu, phó viện giám Phương Thanh Diệp tất tả đi ra, cười mà nói:

“Hạc Thần, thật thất lễ, không ra đón từ xa được.”

Phương Thanh Diệp ngoài bốn mươi tuổi, là cháu ruột của sơn trưởng Phương Bá Thường. Thuở nhỏ đã theo Bá Thường học tập, từng đỗ tú tài nhưng không màng quan lộ, ở lại thư viện giảng học suốt nửa đời, hiện giữ chức viện giám, quản lý mọi sự vụ trong thư viện.

Bùi Yến chắp tay:

“Thầy ta thế nào rồi?”

Phương Thanh Diệp lúc này mới thấy Khương Ly, ngạc nhiên hỏi:

“Không ổn lắm. Đã dùng thuốc nhưng đến giờ vẫn chưa tỉnh. Hạc Thần, còn vị cô nương này là—”

“Đây là tiểu thư phủ Tiết trung thừa, người trong y đạo gọi là Tân Di Thánh Thủ. Ta mời nàng đến chẩn trị cho thầy. Viện giám mau dẫn đường, trước hết hãy cứu người.”

Phương Thanh Diệp lộ vẻ kinh ngạc, vội nói:

“Thế tử, Tiết cô nương, xin mời.”

Theo ông vào trong Nhị môn, ánh sáng bình minh đã lờ mờ rọi xuống các dãy học xá trang nghiêm.

Phía bắc là đại giảng đường kiêm lễ đường; phía tây qua hành lang dài là tám gian học trai mái ngói cong nề nếp; sân giữa trồng đầy kỳ thạch, tùng trúc xanh rợp. Phía đông cũng có hành lang, sau tường chạm hoa là dãy học xá hai tầng gỗ gạch nối liền. Xa hơn về phía đông là nhà ăn và khu tắm giặt của học sinh; quá nữa là chỗ ở của các tạp dịch và phu trai. Còn nơi cư trú của các phu tử và sơn trưởng thì phải men theo lối bắc tới bên hồ Quân Tử.

Đoàn người đi dọc hành lang phía đông, qua cửa sổ khắc hoa trông sang, thấy các phòng học đều khóa kín. Tới cuối hành lang, là con đường nối giữa Đình Thính Tuyền và đại giảng đường. Theo lối rẽ về hướng đông bắc, trước là nơi ở của các phu tử – Đức Âm lâu, đi tiếp lên bắc mới đến chỗ ở của sơn trưởng – Văn Hoa các.

Bùi Yến mỗi năm đều lên núi một lần, đường đi đã thuộc nằm lòng; còn Khương Ly bảy năm chưa về, tuy bố cục không đổi, song cảnh vật đã khác, khiến nàng có cảm giác vừa quen thuộc vừa xa lạ.

Lúc này trời mới tờ mờ sáng, trong thư viện chỉ còn mấy ngọn phong đăng lay động dưới hiên, bốn phía vắng lặng.

Khi tới gần Đình Thính Tuyền, Phương Thanh Diệp ngẩng nhìn dãy phòng cuối tầng hai nói:

“Sau khi phát hiện việc hôm qua, thư viện đã đình học. Chiều qua phái người xuống núi, chúng ta tìm thêm nửa ngày vẫn không thấy tung tích. Cửa phòng đã khóa, lát nữa ta sẽ đưa các người đến xem.”

Bùi Yến gật đầu, đi tiếp qua Đức Âm lâu, chẳng mấy chốc đến trước Văn Hoa các.

“Mục Chi, Hạc Thần đến rồi!”

Văn Hoa các là tiểu viện hai gian. Gian chính là nơi ở của Phương Bá Thường, hai bên là thư phòng và trà thất. Trời chưa sáng hẳn, trong viện đèn đuốc vẫn sáng trưng.

Bùi Yến và Khương Ly vội bước vào, thấy bên giường có một lão bộc tóc bạc và một tiểu đồng áo xanh đang hầu, thêm một nam tử áo trắng độ ngoài ba mươi đứng nơi cuối giường. Trong phòng nồng nặc mùi thuốc, tiểu đồng mắt đỏ hoe.

Người áo trắng tên Mục Chi, nghe tiếng liền ra đón, lễ phép cúi chào:

“Tham kiến thế tử.”

Khương Ly nhìn qua, thấy hắn dung mạo tuấn nhã, khí độ ôn hòa, song xa lạ – không phải phu tử cũ trong thư viện. Bùi Yến gật đầu, giới thiệu:

“Đây là Tiết cô nương, ta mời đến chẩn trị cho thầy, xin giao cho nàng.”

Khương Ly trấn tĩnh, tiến lên bắt mạch. Trên giường, Phương Bá Thường tóc bạc da mồi, gương mặt gầy gò, mặc đơn sam mỏng, đôi mắt nhắm nghiền, cổ họng khẽ phát ra tiếng khò khè.

Lão bộc và tiểu đồng đều đứng lặng bên giường, ánh mắt đầy lo lắng.

Lão bộc không nhịn được nói:

“Lão gia gần đây từng nhiễm phong hàn, thân thể vốn đã yếu. Nay gặp chuyện này, thương tâm lo lắng nên phát bệnh nặng. Lâm tiên sinh cùng lão nô có biết chút y thuật, đã sắc thuốc châm cứu, nhưng lão gia vẫn chưa tỉnh. Bất đắc dĩ mới phải thỉnh thế tử đến. Lúc lão gia hôn mê vẫn còn gọi tên thế tử, thật là…”

Bùi Yến vội nói:

“Trương bá, người không cần khách sáo như vậy. Đây đều là việc ta nên làm. Tiết cô nương là danh y giỏi nhất thành Trường An, xin người cứ yên tâm.”

Trương Hoài Lễ, hầu cận lâu năm bên cạnh Phương Bá Thường, vốn là người Bùi Yến rất kính trọng.

Khương Ly bắt mạch xong, vừa xem ngực và môi răng của Phương Bá Thường, vừa hỏi:

“Trương bá, lão tiên sinh có phải thường thấy đau tức dưới ngực, mỗi khi lao tâm mệt mỏi lại phát tác, nghỉ ngơi thì giảm? Gần nửa tháng nay có thêm hồi hộp, tinh thần mỏi mệt, đôi khi đầy bụng, ợ hơi, trung khí nghịch, ban đêm còn hay ho nhẹ?”

Không đợi ông ta đáp, nàng lại nói tiếp:

“Lưỡi hơi đỏ nhạt, rìa có ứ ban, rêu vàng mỏng dính, mạch huyền tế. Hẳn còn khô khát trong miệng, ăn uống kém, giấc ngủ chập chờn, dễ tỉnh, nhiều mộng, và phiền muộn?”

Trương bá nghe mà mắt sáng lên:

“Cô nương nói không sai chút nào, quả thật đúng như thế!”

Khương Ly gật nhẹ:

Bạn đang đọc truyện tại rungtruyen.com. Chúc vui vẻ!!!

“Ta sẽ kê lại phương thuốc mới, các người mau sắc thuốc đi.”

Trương bá lập tức lấy giấy bút, chỉ thấy nàng vận bút như bay, trong chốc lát đã viết xong toa. Ông cẩn thận xem qua, liền dặn:

“Tuệ nhi, mau gọi A Bình đi cùng ngươi xuống dược phòng bắt thuốc.”

Thư viện có sẵn dược thất để phòng khi cấp sự. Tiểu tỳ Trương Tuệ Nhi lĩnh lệnh, xách đèn gió chạy đi.

Khương Ly quay sang nói:

“Hoài Tịch, lấy túi châm.”

Trong lúc Hoài Tịch chuẩn bị, nàng giải thích:

“Lão tiên sinh tuổi cao, mỗi khi mệt thì tức ngực, khó ngủ, tinh thần sa sút, trung khí không điều. Bệnh phát từ can uất khí trệ, khí trệ lâu ngày làm thủy dịch ngưng đọng, huyết ứ sinh đàm, kết nơi ngực mà thành chứng ‘hung tý’. Thêm chứng vị quản đầy, khô khát miệng đắng, là do ‘mộc khắc thổ’, tỳ vị mất điều hòa, sinh đàm thấp bên trong. Cho nên trị phải sơ can kiện tỳ, nhu hòa tán kết②. Bệnh tuy nghiêm trọng, song vẫn còn cứu được, không cần quá lo lắng.”

Giọng nàng ôn hòa mà trấn tĩnh, nghe vào khiến người tự nhiên yên lòng. Trương bá khẽ thở ra, còn Lâm Mục Chi đứng bên cũng không khỏi nhìn nàng với ánh mắt khác đi.

Khương Ly cẩn thận tháo áo ngoài của Phương Bá Thường, hạ kim từng vị trí trên ngực, bụng và cánh tay. Vừa qua mươi kim, tiếng khò khè nơi cổ họng ông bỗng dồn dập, rồi ho nhẹ một tiếng, chậm rãi mở mắt.

“Lão gia——”

“Thầy——”

Trương bá và Bùi Yến cùng bật thốt. Phương Bá Thường chuyển động con ngươi, ý thức dần tỉnh lại, nhìn quanh một vòng, khàn giọng nói:

“Hạc Thần… con đến rồi à——”

“Thưa thầy, học trò ở đây. Thầy cứ yên tâm, tỉnh lại rồi thì không sao nữa.”

Hắn lại nhìn sang Khương Ly:

“Thầy, đây là danh y con mời đến – đại tiểu thư phủ Tiết trung thừa, người đã cứu thầy đó.”

Phương Bá Thường môi khô nứt, khó nói nên lời. Khương Ly dịu giọng:

“Lão tiên sinh trước hết nên nghỉ ngơi, đừng nói nhiều.”

Phương Bá Thường khẽ thở ra, nhắm mắt dưỡng thần. Phương Thanh Diệp đứng cạnh liền chắp tay:

“Đa tạ cô nương cứu giúp bá phụ. Thật khiến người khâm phục.”

Khương Ly năm xưa từng học tại thư viện hai năm, tuy không thân thiết, nhưng cũng có chút sư duyên. Nàng khẽ nghiêng người tránh lễ, nói:

“Không dám nhận.”

Sau một nén hương, nàng thu kim, bệnh nhân đã khá hơn nhiều.

Phương Bá Thường khàn giọng hỏi:

“Hạc Thần… Hoài Cẩn… đứa nhỏ ấy…”

Bùi Yến đáp:

“Xin thầy an tâm. Học trò đã đến, việc này sẽ tự mình tra rõ. Với Phó thị lang, ta cũng đã gửi thư, chắc chẳng bao lâu ông ấy sẽ lên núi. Đợi tìm ra chân tướng, ta nhất định cho họ một lời công bằng.”

Phương Bá Thường vẫn đau lòng không thôi, Phương Thanh Diệp ở bên khuyên:

“Bá phụ dốc lòng dạy học nửa đời, chưa từng xảy ra chuyện như vậy. Lần này mất một học sinh, lại e dữ nhiều lành ít. Thương tâm và giận hãi cùng dấy, thân thể làm sao chịu nổi.”

Đúng lúc đó, Trương Tuệ Nhi mang thuốc về. Khương Ly thu dọn hòm châm, lui ra một bên, để Trương bá hầu thuốc.

Sau khi uống, nàng dặn:

“Thuốc hôm nay chia làm bốn lần, từ ngày mai giảm còn ba. Ngày mốt ta sẽ tới châm cứu lại. Lúc này lão tiên sinh nên nghỉ cho khỏe, giữ tinh thần an ổn.”

Lúc ấy trời đã sáng rõ, phía giảng xá vọng lại tiếng người lác đác.

Phương Thanh Diệp ân cần nói:

“Bá phụ, xin nghe lời Tiết cô nương. Còn lại để ta và Hạc Thần lo. Phó thị lang lên núi, ta sẽ ra đón giải thích. Người cứ an tâm nghỉ, đợi khỏe lại hẵng tính.”

Phương Bá Thường khẽ ho hai tiếng, mệt mỏi nói:

“Thôi được… lão phu cũng chẳng giúp được gì nữa. Hạc Thần, chuyện này giao cho con.”

“Thầy yên tâm, lấy dưỡng bệnh làm trọng.”

Phương Bá Thường gật đầu, để Trương bá đỡ nằm xuống, còn những người khác đều nhẹ bước lui ra.

Ra tới giữa sân, Bùi Yến hỏi:

“Hiện trong thư viện có bao nhiêu người tất cả?”

Phương Thanh Diệp đáp:

“Sau Tết có điều chỉnh, nay có sáu mươi bảy học sinh. Trừ ta và bá phụ, còn sáu tiên sinh khác, thêm phu trai, đầu bếp và tạp dịch là mười chín người. Có cần bản danh sách không?”

“Có.”

Phương Thanh Diệp liền sai người đi lấy, rồi nói tiếp:

“Năm nay trước kỳ xuân thí, bá phụ còn mời mấy vị khách tới luận học. Ngoài Tiết trung thừa, những người khác đã đến từ hôm qua. Khi phát hiện Phó Hoài Cẩn mất tích, họ cũng góp lời bàn, đêm qua nghỉ ở Đắc Chân lâu và Đình Thính Tuyền.”

Nói đến đây, ông lại nhìn Khương Ly:

protected text

Khương Ly vội nói:

“Phương viện giám không cần khách khí. Ta không mệt, mà nay thư viện lại có biến, đệ ta cũng đang ở đây, ta muốn cùng Bùi thế tử xem xét cho rõ.”

Bùi Yến cũng nói:

“Tiết cô nương tỉ mỉ chu đáo, viện giám không cần bận tâm. Đêm nay để nàng nghỉ ở U Hoàng quán là được.”

U Hoàng quán vốn là nơi Bùi Yến ở thời còn học tại thư viện. Từ sau khi hắn rời đi, hiếm khi có ai ở đó; ngay cả khi có khách đông, Phương Thanh Diệp cũng không dám tự tiện sắp người tới. Hôm nay nghe hắn chủ động nói vậy, bất giác hơi sững.

“Rõ rồi. Hiện trong viện không còn nữ học sinh hay nữ tiên sinh nào, nếu có điều bất tiện, xin cô cứ nói thẳng, ta sẽ bảo mấy đầu bếp phụ nhân đến chăm nom.”

Khương Ly khẽ đáp:

“Không cần, chỉ cần cho tỳ nữ của ta đem hòm thuốc đặt tạm là được.”

Phương Thanh Diệp quay đầu gọi:

“Tuệ nhi, dẫn đường.”

Trương Tuệ Nhi chỉ tám tuổi, nhỏ nhắn lanh lợi, đôi mắt đen láy sáng ngời. Nó vui vẻ đáp, dẫn Hoài Tịch đi về hướng tây bắc – nơi U Hoàng quán tọa lạc.

Sắp xếp xong, Bùi Yến nói:

“Giờ chúng ta đến xem khu học xá đi.”

Phó Hoài Cẩn mất tích đã tròn một ngày một đêm, Phương Thanh Diệp chẳng dám trì hoãn, lập tức dẫn đường. Cả nhóm quay lại theo lối cũ, qua Đức Âm lâu và Đình Thính Tuyền thì đã nghe trong viện râm ran tiếng người – hẳn là các phu tử và khách nhân đều đã dậy.

Phương Thanh Diệp hạ giọng nói:

“Hiện trong viện còn có cựu Lễ bộ thị lang Giang lão tiên sinh, Hộ bộ thị lang Vương đại nhân – vốn là học trò cũ của Giang tiên sinh, sớm lên núi để thăm thầy. Ngoài ra còn có Vĩnh Dương hầu, Tiểu Cao đại nhân, và Cao nhị công tử.”

Vĩnh Dương hầu Liễu Minh Trình chính là phụ thân của Liễu Nguyên Gia, đến sớm như vậy cũng vì con trai mà thôi. Tiểu Cao đại nhân lại là Cao Tòng Chương, thứ đệ của Định Tây hầu, còn Cao nhị công tử là Cao Huy, đều là những người Bùi Yến quen biết từ trước.

Bùi Yến gật đầu, theo Phương Thanh Diệp đi qua Đình Thính Tuyền, chỉ thấy trong ánh sáng ban mai, cửa sổ và cửa phòng tầng trên tầng dưới của dãy học xá đều lần lượt mở ra, đám học sinh từ bên trong thò đầu ra nhìn.

Khu học xá này nằm hướng đông trông tây, xây theo kiểu gạch gỗ xen lẫn. Phần khung tầng một và tầng hai đều bằng gạch đá, còn lan can, mái hiên, cột kèo thì toàn gỗ lim. Hai tầng đều có hành lang thông nhau, bậc thang lên lầu chia làm hai đầu nam bắc, khiến cả dãy nhà được chia làm ba khu.

Phương Thanh Diệp dẫn đầu. Bọn học trò thấy ông liền vội đóng kín cửa sổ, chỉ còn vài kẻ gan lì vẫn rón rén nhìn qua khe hở. Phương Thanh Diệp cũng chẳng rầy, chỉ tiếp tục đi thẳng về phía cầu thang phía bắc.

Vừa bước lên tầng hai, đã có một bóng người bất ngờ xuất hiện.

“Đại tỷ sao lại đến đây—”

Người nói là một công tử trẻ tuổi, dung mạo thanh tú, thân hình gầy mà đoan chính, chính là Tiết Trạm, người mà Khương Ly từng gặp vài lần. Tuy hắn và Tiết Thấm là song sinh long phượng, nhưng diện mạo lại không giống nhau.

Hắn kinh ngạc nhìn nàng, hỏi:

“Phụ thân đâu?”

Tiết Trạm miệng gọi “đại tỷ” song giọng điệu xa cách, Khương Ly liền lạnh mặt đáp:

“Phụ thân lát nữa sẽ tới. Đệ tạm tránh ra, đừng cản trở việc công.”

Phương Thanh Diệp sớm nghe nói chuyện Tiết gia nhận lại trưởng nữ, cũng không xen vào, chỉ tiếp tục dẫn đường về phía cuối hành lang.

Bùi Yến thì khẽ dừng chân, ánh mắt lạnh lẽo lướt qua Tiết Trạm, khiến hắn lập tức cúi đầu, vội lùi sang một bên, không dám nói thêm lời nào.

Tới tận cùng hành lang phía bắc, Phương Thanh Diệp mở khóa.

Bùi Yến tiến lên, đầu tiên thấy then gỗ cửa bị phá gãy, sau đó mới bước chậm vào trong.

Đó là một gian phòng rộng chừng bốn, năm trượng vuông, cửa chính hướng tây, bên trái có bình phong khắc họa cung nữ bằng gỗ lê đỏ cao ngang người, sau bình phong là giường bạt bộ gỗ hoàng đàn, treo màn gấm thêu hoa, phía bắc là tủ sách gỗ tử đàn và bàn viết gỗ lê vàng; sát cửa sổ tây còn có tủ thấp, cùng một giá đa bảo các bày đủ loại đồ vật. Phòng không lớn mà đồ đạc lại dày đặc, kết hợp với tấm thảm thêu hoa văn phức tạp, nhìn qua mang nét xa xỉ khác thường.

Bùi Yến cau mày. Phương Thanh Diệp thoáng lúng túng nói:

“Nhà họ Phó nuông chiều con, nhiều lần lên xin, lại thêm dạo này học sinh giảm, nên mới cho phép hắn bày biện riêng như vậy.”

Bùi Yến không đáp, chỉ cúi đầu quan sát.

Trên thảm lót nền, cách bình phong một thước, có một vệt máu sẫm đen loang rộng, xung quanh còn vương mấy giọt bắn tung. Cạnh bàn học phía đông nam, một hàng bút sói rơi nghiêng ngả, bút giá cũng lật úp.

Xem xong, hắn ngẩng đầu nhìn về phía cửa sổ tây. Ngoài cảnh hỗn độn trong phòng, điều khác thường nhất là vài khung cửa giấy bị thủng, gió lạnh lùa vào, làm tờ giấy dán cửa bay mất, để trống mấy lỗ to bằng miệng bát.

Phương Thanh Diệp nói:

“Hai đêm trước gió mưa sấm chớp dữ dội, cành bách sau nhà bị gãy, xuyên thủng cửa sổ mấy phòng trên lầu. Các phòng khác đã sửa, chỉ có phòng này chưa kịp vá.”

Bùi Yến cúi nhìn, quả nhiên thấy vài đoạn cành khô dưới khung cửa. Hắn gật đầu, đi vòng qua bình phong tới gần giường. Mền gối xộc xệch, hiển nhiên chủ nhân không quen gọn gàng. Ở phía bắc giường đặt hai rương gỗ, nắp đều khép kín.

Phương Thanh Diệp nói:

“Khi phát hiện mất tích, chúng ta đã mở kiểm tra. Quần áo và vật quý đều còn nguyên, không có dấu chuẩn bị đi xa. Nhưng lạ ở chỗ, cửa phòng bị chốt từ trong, cửa sổ lại bị đóng đinh chết. Hắn chẳng lẽ hóa chim mà bay qua mấy lỗ thủng ấy sao?”

Bùi Yến mở rương xem, rồi hỏi:

“Phòng bên cạnh là ai ở?”

“Viên Diễm, bằng hữu thuở nhỏ của hắn. Hai người cùng nhập học năm ngoái đầu hạ, đều tranh phòng riêng này. Sau cùng ở kề nhau, cũng dễ qua lại. Chính cậu ta sáng qua đến gõ cửa, mới phát hiện trong phòng không động tĩnh.”

Khương Ly lúc này cũng đang quan sát khắp nơi.

Năm xưa nàng học ở đây, khu bắc từng ngăn ra làm nữ học xá. Nay vì số học sinh giảm, nữ tử quý tộc phần lớn chọn tư học trong thành, vách ngăn bị dỡ bỏ, nên những công tử thế gia mới có thể chiếm phòng riêng.

“Đi, mời Viên Diễm qua đây.”

Bùi Yến ra lệnh.

Phương Thanh Diệp lập tức sang phòng bên gõ cửa. Tiếng gõ “cốc cốc” vang lên trầm đục; tuy chỉ cách một vách, nhưng tường dày, âm thanh cách biệt hơn tưởng.

Chẳng bao lâu, một thiếu niên chừng mười tám, mười chín tuổi theo ông bước sang. Hắn mặc áo lam, búi tóc gọn, rõ là đã dậy từ sớm, song sắc mặt lại tái nhợt, quầng mắt thâm đen, thần khí sa sút.

Vừa bước tới cửa phòng, thấy vệt máu đen trên thảm, hắn lập tức giật mình, lùi hẳn nửa bước, mặt trắng bệch.

Phương Thanh Diệp nghiêm giọng:

“Viên Diễm, vị này là Thiếu khanh Đại Lý Tự, thế tử phủ Bùi quốc công, hôm nay đến tra tìm tung tích của Phó Hoài Cẩn. Ngươi là bằng hữu thân thiết nhất của hắn, hãy đem hết những gì ngươi thấy nghe trong mấy ngày qua nói rõ.”

Giọng ông nghiêm khắc, Viên Diễm run lên, vai rụt cổ co, chẳng dám nhìn vệt máu, càng không dám đối diện ánh mắt lạnh của Bùi Yến. Hắn lắp bắp nói:

“Ta… ta không biết gì cả… thật sự không biết hắn biến mất thế nào. Có lẽ… có lẽ là… quỷ thần, nhất định là quỷ thần mang hắn đi rồi…”