Bùi Yến sải bước dài tiến vào Đông viện, vừa mở miệng đã hạ lệnh như vậy. Cửu Tư vội đáp:
“Triệu Nhất Minh và Tề đại nhân đã tới, nhưng người của chúng ta sáng nay mới lên đường đi Chu Dương, nhanh nhất cũng phải tới khi trời tối mới quay lại được.”
Nghe tiếng, Khương Ly từ trong bước ra. Ánh mắt hai người giao nhau, Bùi Yến nói:
“Phùng Tranh một mực khẳng định giữa hắn và Đoạn Phối chỉ là tình huynh đệ, nhưng khi hỏi đến chuyện phu nhân của hắn, thì lại rõ ràng né tránh.”
Vừa dứt lời, Triệu Nhất Minh cùng một nam tử trung niên mặc cẩm y theo sau đi ra — chính là Trường An lệnh Tề Dận. Tề Dận chắp tay hành lễ:
“Thế tử, sao chuyện của Đoạn Thế tử lại đột nhiên dính dáng đến vụ án ở Chu Dương vậy?”
Bùi Yến giơ tay mời:
“Tề đại nhân, mời vào trong nói chuyện.”
Lúc này đã qua nửa canh Thân, kim ô ngả về Tây, ánh tà dương hắt qua song cửa khiến gian phòng sáng rực. Đợi mấy người quay lại vào trong, Bùi Yến hỏi:
“Quyển tông vụ án đó đều mang theo cả chứ?”
Tề Dận khẽ gật đầu, phất tay, người nha sai bên cạnh lập tức dâng lên hai quyển tông dày nặng.
Bùi Yến đón lấy, lật xem. Tề Dận nói:
“Vụ án này thực ra chẳng phức tạp. Hung đồ vốn là một phu khuân vác ở bến tàu, thuở trước từng làm kẻ trộm, đã bị giam hai năm. Ra tù rồi hắn làm việc nặng kiếm chút bạc, chẳng được bao nhiêu, nên lại khởi tâm trộm cắp. Lúc ấy hắn trộm ngọc bội của phu nhân nhà thương nhân tơ lụa ở Chu Dương, bị bắt quả tang, không chỉ mất việc còn bị đánh thảm hại, thương thế chẳng nhẹ. Vì thế hắn sinh lòng thù hận, giết người cướp của để báo oán.”
“Lúc huyện nha Chu Dương gửi tin đến, hắn đã hại chết ba vị phụ nhân trẻ, trong đó có vị phu nhân kia. Hai người còn lại ăn vận, dung mạo, dáng dấp đều tương tự phu nhân nhà tơ lụa. Nhưng chuyện trộm cắp đã nửa năm trước, người nhà thương nhân ấy đã quên mất hắn. Lại thêm hung đồ có chút bản lĩnh, hành nghề trộm cắp lâu năm, tay chân rất nhanh, nên vẫn chưa bị bắt. Khi đó nha môn chúng ta không đủ nhân lực, bèn cầu viện Kim Ngô Vệ, Đoạn Thế tử và Triệu Đô úy dẫn hai đội nhân mã đi Chu Dương. Sau đó chừng nửa tháng thì nghe tin đã bắt được người, nhưng trên đường áp giải về Trường An thì hắn bị thương nặng mà chết.”
Bùi Yến vừa nghe vừa lật từng tờ quyển tông. Khi ấy Triệu Nhất Minh tiếp lời:
“Lúc đó ta mang theo bảy tám thuộc hạ, Đoạn Phối cũng mang một đội nhân mã. Chúng ta cùng đến huyện nha Chu Dương tìm hiểu tình hình, sau đó chia làm hai đường tra xét lai lịch các nạn nhân. Ba ngày sau, từ lời khai của thân quyến người bị hại thứ ba họ Chu, ta tìm được một kẻ khả nghi. Nhưng cùng lúc ấy, manh mối cũng đến tay Đoạn Phối, hắn liền lập tức sai người bố trí phòng bị—”
Nói đến đây, Triệu Nhất Minh lạnh giọng:
“Loại chuyện như vậy chẳng phải lần đầu. Ta cũng chẳng muốn làm áo cưới cho kẻ khác, bèn dẫn người trở về Trường An tiếp tục lo việc khác. Việc sau này ta không rõ, chỉ biết rằng khi phạm nhân được đưa về, hắn đã hóa thành thi thể.”
Bùi Yến hỏi:
“Lúc đó Phùng Tranh ở đâu?”
“Lúc xuất phát từ Trường An thì hắn chưa đi cùng. Sau này đến Chu Dương thì Phùng Tranh mới xuất hiện, nghe nói là đưa phu nhân về nhà mẹ đẻ. Ta và hắn giao tình không sâu, cũng không hỏi thêm.”
Bùi Yến lại hỏi:
“Sau đó thì sao? Hắn khi nào trở về?”
Triệu Nhất Minh trầm ngâm một lát rồi nói:
“Cũng là trùng hợp, vụ án kết thúc thì Phùng Tranh không cùng quay về. Nghe nói phu nhân hắn gặp chuyện bất trắc, chính Đoạn Phối mang xác phạm nhân trở về. Sau này vụ án định tội, luận công ban thưởng, hắn lo tang sự cho phu nhân xong, nửa tháng sau mới trở lại nha môn.”
Đang nói dở, Cửu Tư bước vào báo:
“Công tử, Tống Phàm Thắng đến rồi.”
Người này chính là kẻ năm ấy theo Đoạn Phối đi Chu Dương, ngoài Phùng Tranh ra, hắn là người Đoạn Phối tín nhiệm nhất. Bùi Yến lập tức bảo:
“Mời hắn vào!”
Chẳng bao lâu, Tống Phàm Thắng trong bộ quan phục Kim Ngô Vệ vén rèm bước vào, hành lễ xong, Bùi Yến hỏi:
“Lần trước các ngươi có nhắc đến vụ Chu Dương, nói công lao lớn nhất là của Phùng Tranh. Có thể kể rõ được chăng?”
Tống Phàm Thắng mở đầu:
“Hồi đó sau khi án phát, chúng ta đến Chu Dương…”
Hắn liếc Triệu Nhất Minh một cái, vẻ mặt thoáng sợ, tay nắm chặt chuôi kiếm bên hông:
“Hung thủ hại ba người liên tiếp, chúng ta chia hai đường thăm hỏi thân quyến nạn nhân. Sau này… chỉ còn nhóm chúng ta. Tra hỏi thêm vài ngày, nhận được manh mối cho thấy hung thủ có thể liên quan đến ba nơi: một là con phố son phấn nổi tiếng của Chu Dương, hai là ngôi miếu Hoa Thần trong thành, ba là hiệu trang sức lớn nhất Chu Dương. Cả ba nơi đều gần nhà các nạn nhân và hiện trường án, lại thường có phụ nhân trẻ ra vào. Vì vậy chúng ta chia làm ba tổ người mai phục.”
“Tại sao nói công đầu là của Phùng Tranh? Bởi khi ấy người cùng nhóm với Thế tử chính là hắn. Ba ngày đầu mai phục đều không có manh mối, ta còn nói e rằng cách này vô dụng — sau ba vụ án thảm như thế, các phu nhân tiểu thư trong thành đều không dám ra ngoài, hung thủ sao có thể xuất hiện? Tuy chúng ta có được một bức họa chân dung, nhưng diện mạo không rõ…”
Bùi Yến hỏi:
“Bức họa đó từ đâu mà có?”
Tống Phàm Thắng đáp:
“Là thân nhân nạn nhân thứ ba nói rằng phu nhân nhà mình từng bị một trung niên nam nhân dáng vẻ kỳ quái bám theo, bị phát hiện thì biến mất. Khi ấy hai a hoàn thấy rõ bóng người nhưng không nhớ được mặt, chúng ta dựa theo lời họ vẽ lại. Đưa cho thân quyến hai nạn nhân trước xem, họ cũng nói có vài phần giống. Cộng thêm dấu vết ở hiện trường và trên thi thể, chúng ta mới khoanh vùng được hình dáng hung thủ mà bố trí mai phục.”
Thấy Bùi Yến gật đầu, Tống Phàm Thắng kể tiếp:
“Lúc mọi người định bỏ cuộc thì Phùng Tranh bảo hắn nghĩ ra cách hay, nhưng không nói rõ là cách gì, chỉ dặn đừng động tĩnh lớn, cứ án binh bất động. Đến ngày thứ năm, hắn và Thế tử quả thật bắt được hung thủ. Khi chúng ta nhận tin chạy đến thì người đã bị khống chế. Trước mặt mọi người, Phùng Tranh chỉ nói Thế tử liệu sự như thần, bắt được kẻ phạm tội tại chỗ. Lúc ấy ai nấy đều mừng rỡ, vì mười ngày ròng mới bắt được người, mà dù ai ra tay, công đầu cũng quy về Thế tử, nên chẳng ai truy hỏi thêm.”
Bùi Yến nghiêm giọng:
“Bắt được tại trận? Vậy sau đó kẻ ấy trốn thoát thế nào?”
Tống Phàm Thắng gật đầu, rồi nói tiếp:
“Là trên đường trở về Trường An. Phủ Đoạn quốc công có một trang trại suối nóng ngoài thành, khi ấy chúng ta còn cách Trường An ba, bốn chục dặm, nếu cưỡi ngựa gấp rút thì cũng phải tới nửa đêm mới vào được thành. Thế tử bèn nói, mọi người vất vả hơn mười ngày, chi bằng đến trang trại nghỉ ngơi một đêm, sáng hôm sau lên đường cũng không muộn. Chính đêm hôm đó, hung phạm bị giam trong phòng chất củi, chẳng biết từ đâu mò được một con dao sắt rỉ, cắt đứt dây trói mà trốn đi.”
Tề Dận nghe xong, sắc mặt khó tả, còn Triệu Nhất Minh thì khẽ hừ lạnh, ánh mắt đầy vẻ khinh thường.
Bùi Yến lại hỏi:
“Việc này các ngươi giấu đi, vậy sau đó làm sao bắt lại được người?”
Tống Phàm Thắng khàn giọng đáp:
“Vẫn là Phùng Tranh cùng Thế tử bắt về. Khi ấy hắn chạy thoát, ai nấy đều không biết trốn đi đâu, chúng ta chia làm mấy đường đuổi theo. Loại kẻ liều mạng này, thật khó đoán sẽ chạy hướng nào. Chúng ta men theo các quan đạo truy tìm, còn Thế tử và Phùng Tranh thì quay lại Chu Dương. Đến ngày thứ ba, chúng ta cũng trở lại đó hội hợp, thì được báo rằng hung phạm đã bị bắt, chỉ là… chỉ là trong lúc bắt giữ, người ấy đã chết rồi…”
“Đúng vậy, bị thương khi bắt giữ, còn khiến Phùng Tranh bị thương theo. Trên người hắn có ba vết đâm, thêm mấy thương tích khác, người đã chết cứng. Thi thể tạm đặt tại nghĩa trang Chu Dương. Tên đó vốn tội ác tày trời, chết cũng chẳng oan, chúng ta chẳng truy xét thêm, Thế tử lại có lời căn dặn, nên ai nấy đều im lặng, chỉ mang xác về Trường An.”
Việc hắn kể cùng nội dung ghi trong quyển tông khác nhau không ít, song vì kẻ chết tội nặng, nên chẳng ai truy cứu. Nhưng Bùi Yến hỏi dồn:
“Lúc ấy Phùng Tranh không trở về cùng các ngươi?”
Tống Phàm Thắng gật đầu chắc nịch:
“Phu nhân hắn gặp chuyện ngoài ý muốn, đúng vào mấy ngày chúng ta làm công vụ. Nàng ta ở nhà cũ Chu Dương, nghe nói là về tế tổ. Hai ngày trước đó, nàng ta ngồi xe ngựa lên chùa trên núi dâng hương, giữa đường xe lật xuống khe núi, người và xe đều nát.”
Bùi Yến hỏi gấp:
“Cụ thể là ngày nào?”
Tống Phàm Thắng chau mày nhớ lại:
“Chúng ta đến Chu Dương vào mồng tám, bắt được hung phạm ngày mười chín, hắn trốn đêm hai mươi. Đến khi quay lại Chu Dương là ngày hai mươi ba, lúc đó phạm nhân đã chết. Chúng ta nghỉ thêm một ngày, thì tối hôm ấy nhà phu nhân hắn cho người báo tin. Từ đó hắn đi luôn không về. Sau hắn nhờ người đến nha môn xin nghỉ, lúc ấy chúng ta mới biết phu nhân hắn mất. Nghe nói tai nạn xảy ra ngày hai mươi mốt, vào lúc chạng vạng. Cỗ xe lật xuống sườn núi, tên đánh xe và một tỳ nữ bị thương nặng, mê man rất lâu. Khi tỉnh dậy thì trời đã tối, chẳng thấy phu nhân đâu, bèn cố gắng bò về phủ báo tin. Trong nhà lập tức phái người lên núi tìm, suốt một ngày một đêm, đến trưa ngày hai mươi ba mới phát hiện thi thể ở chỗ trũng dưới sườn núi. Phu nhân hắn ngã thảm quá, người cứng đờ rồi…”
“Ngày hai mươi mốt gặp nạn, sao đến hai mươi ba mới báo cho Phùng Tranh?”
Tống Phàm Thắng đáp:
“Nhà nương tử hắn là đại tộc bản địa của Chu Dương, con gái mất tích ban đầu không dám rêu rao, cũng chẳng trình quan. Hơn nữa nơi hung phạm ẩn náu nằm ngoài thành, mà họ không biết Phùng Tranh đã quay lại Chu Dương, nên mới chậm trễ như thế.”
Nghe tới đây, Bùi Yến và Khương Ly đưa mắt nhìn nhau, rồi hỏi tiếp:
“Phu nhân hắn thật sự chết do tai nạn ư?”
Tống Phàm Thắng có phần kinh ngạc:
“Nếu không phải tai nạn thì còn là gì? Nghe nói tỳ nữ bị gãy chân, khi đó trời giá rét, lại có tuyết rơi, suýt chút nữa hai người hầu cũng chẳng sống nổi. Nửa tháng sau hắn mới quay về, gầy đi rõ rệt, hai tháng sau khi làm việc cũng chẳng được như trước, đủ thấy đau buồn thế nào. Nhưng chẳng lâu sau, hắn được thăng nửa cấp, được Thế tử coi trọng, nên mới dần vực lại tinh thần.”
Bùi Yến trầm ngâm suy nghĩ, Khương Ly tiến lên nửa bước hỏi:
“Lúc đó Đoạn Phối bắt được kẻ phạm tội tại trận, cụ thể là thế nào?”
Tống Phàm Thắng gãi đầu:
“Nghe lời hắn kể, là theo dõi mục tiêu, vừa định ra tay thì bị bắt. Dọc đường áp giải, hắn luôn nói chỉ vì người nọ giống biểu thân xa của mình, nên mới trót theo dõi, chẳng có ác ý. Nhưng trong căn nhà hắn trú ngụ, chúng ta tìm thấy nhiều chứng cứ liên quan tới vụ án, bao gồm cả hung khí. Gọi thân quyến ba nạn nhân đến nhận, người chứng vật chứng đều đủ, tội danh đã rõ ràng.”
Khương Ly hơi ngẩn ra:
“Theo dõi mục tiêu… có biết người đó là ai không?”
Tống Phàm Thắng lắc đầu:
“Không nói rõ, có lẽ cũng là phụ nhân trẻ. Khi đã bắt được hung thủ rồi, những người liên đới như vậy thường không ghi vào án, tránh làm tổn hại thanh danh người vô can.”
Tề Dận chau mày hỏi:
“Vì sao Khương cô nương lại hỏi chuyện ấy?”
Khương Ly khẽ lắc đầu, rồi nói:
“Lúc hung phạm chết, ngoài bị thương, Phùng Tranh còn biểu hiện gì khác không?”
Tống Phàm Thắng ngẫm một lúc mới đáp:
“Khác thường… Nếu nói là khác, thì chỉ là hắn không mấy vui mừng. Chúng ta ai cũng nhẹ nhõm, tưởng cuối cùng xong việc, còn hắn thì ủ rũ, có lẽ vì bị thương, khó mà vui nổi.”
“Bị thương ở đâu?”
Dịch và biên tập bởi Rừng Truyện!!!
“Cánh tay phải, bị rạch hai nhát.”
Khương Ly gật nhẹ, nét mặt như chợt hiểu ra điều gì đó, song nhất thời chẳng biết nên hỏi gì thêm. Tống Phàm Thắng đưa mắt nhìn Bùi Yến rồi liếc sang Tề Dận, vẻ mặt ngày càng lộ vẻ khó hiểu:
“Thế là sao? Vụ của Thế tử có liên can đến vụ án năm ấy ư? Không thể nào! Hung phạm đã chết ở Chu Dương, lại cô độc, không thân thích, người họ hàng xa thì sớm đoạn tuyệt. Những ai dính líu năm đó, sao có thể liên quan được… Chẳng lẽ… Đại Lý Tự nghi ngờ Phùng Tranh sao?”
Tống Phàm Thắng vốn là con nhà quan lại, nghe Bùi Yến và Khương Ly hỏi đến cả phu nhân của Phùng Tranh, trong lòng đã dần hiểu ra điều gì đó, thần sắc kinh nghi:
“Nhưng… sao có thể như vậy được…”
Lời còn chưa dứt, Phùng Kỵ từ ngoài bước nhanh vào, ôm quyền bẩm:
“Đại nhân, chúng ta vừa ghé phủ Minh gia ở Trường An. Nhà đó giờ chỉ còn mấy lão bộc, bọn họ nói khi chuyện xảy ra, họ đều không ở Chu Dương. Họ cũng xác nhận Minh tiểu thư đúng là gặp nạn bất ngờ. Còn Phùng Tranh và vị tiểu thư ấy quả thật là thanh mai trúc mã, sau khi thành thân thì hòa thuận, chỉ là Phùng Tranh bận việc công, thường đi công sai nên phu thê ít được gần nhau. Cha hắn – Phùng viên ngoại lang – lại bệnh nặng đã lâu.
Sau đó chúng ta lục soát kỹ phủ Phùng một lượt, không phát hiện điều gì khả nghi, nhưng đã mang theo tiểu tư thân cận của hắn là Phùng Thiên, cùng quản gia và xa phu của phủ Phùng, hiện đều đã giam trong đại lao.”
Nghe vậy, Bùi Yến lập tức đứng dậy:
“Lập tức thẩm tra!”
Tề Dận cũng vội đứng dậy:
“Ta cùng đi với Thế tử.”
Bùi Yến gật đầu, đoạn quay lại nói với Khương Ly:
“Giờ đã không sớm, nơi này lại đơn sơ, chi bằng cô về phủ đợi tin. Thập An hẳn đến tối mới quay về, tra rõ rồi ta sẽ lập tức sai người báo sang Tiết phủ.”
Khương Ly thân phận bất tiện, quả thực không tiện đến nhà lao. Nàng do dự giây lát rồi nói:
protected text
——
Ra khỏi Thuận Nghĩa môn, lên xe ngựa, gương mặt Khương Ly vẫn còn lạnh nghiêm.
Hoài Tịch ngồi bên khẽ hỏi:
“Cô nương, nếu Phùng Tranh thật là hung thủ, chẳng lẽ chuyện có liên quan đến phu nhân của hắn? Nhưng nghe ra dường như phu nhân hắn quả là gặp nạn ngoài ý muốn, hơn nữa… nàng ta đã chết một năm rồi…”
Thấy Khương Ly trầm mặc, Hoài Tịch đổi giọng an ủi:
“Cô nương chớ lo, Bùi đại nhân đã phái người đến Chu Dương tra xét, nếu hỏi rõ ngọn ngành, có khi mọi việc sẽ sáng tỏ.”
Khương Ly khẽ gật, giọng nghiêm lại:
“Nhưng dấu vết chỉ tay bằng máu kia vẫn chưa giải được. Nếu Bùi Yến thật sự bắt nhầm người…”
Nàng nói đến đây, ngón tay vô thức siết lại. Hoài Tịch đảo mắt, thấp giọng cười:
“Cô nương sợ mình suy đoán sai, khiến Bùi đại nhân liên lụy sao?”
Khương Ly khựng lại, rồi lập tức ngẩng đầu:
“Phùng Tranh vốn là kẻ đáng nghi, tra hỏi hắn theo quy củ là việc phải làm, đâu thể ảnh hưởng tiền đồ ai. Huống hồ, ta tuyệt chẳng tin có sự trùng hợp đến vậy!”
Nói đoạn, giọng nàng lại trầm xuống:
“Trước đây Bùi Yến từng nói khả năng có hai người đồng mưu, giờ xem ra không sai. Nếu không, dấu chỉ ấy không thể giải thích được. Còn việc có liên quan đến Minh tiểu thư hay không, chỉ đợi Thập An trở về mới biết.”
Hoài Tịch gật đầu:
“Trời đã gần tối, chắc cũng sắp rồi, cô nương đừng lo.”
Nói là an ủi, nhưng giữa đôi mày Khương Ly vẫn còn nét lo âu.
Về đến Tiết phủ, chủ tớ hai người đi thẳng đến Doanh Nguyệt Lâu. Vừa bước vào, Cát Tường đã chạy tới:
“Cô nương, chiều nay bên Liễu Đình viện gửi tin tới, nói thuốc hoàn phu nhân dùng rất hiệu nghiệm, Phương ma ma dặn cô cứ yên tâm tiếp tục sắc gửi.”
Trời đã nhập hoàng hôn, ráng chiều như lửa cháy khắp chân trời. Sợi dây căng trong lòng Khương Ly thoáng nới lỏng, nàng lập tức nói:
“Lần trước chỉ gửi ba ngày, còn sớm, trời chưa tối, ta đi chuẩn bị thêm.”
——
Không nghỉ ngơi, nàng đổi sang áo choàng nhẹ rồi cùng Hoài Tịch đến phòng bếp.
Lần trước đã tự tay nấu thuốc ở đó, người trong bếp đều quen mặt. Thấy nàng đích thân vì Giản Hiền chế thuốc, ai nấy trong lòng đều cảm động.
Vừa thấy nàng tới, đám người liền rộn ràng:
“Đại tiểu thư lại đến nấu thuốc cho phu nhân sao?”
“Đúng lúc phòng lò nhỏ đang trống đó!”
“Ôi chao, tiểu thư thật hiếu thuận quá…”
Phòng bếp toàn là phụ nhân trung niên, người nói người cười, giọng điệu vừa cung kính vừa lấy lòng. Khương Ly đưa mắt nhìn quanh, chợt hỏi:
“Hôm nay sao không thấy Trương đại tẩu?”
Trương đại tẩu chính là người mấy hôm trước bị máu lòng heo bắn khắp người. Có người đáp:
“Nàng ta bị than nóng làm bỏng chân, hôm nay nghỉ dưỡng.”
Khương Ly lấy làm lạ:
“Sao lại bỏng được? Có mời thầy thuốc chưa?”
Người kia nói:
“Cô nương yên tâm, đã lấy thuốc của Tiết quản gia rồi, nghe nói thuốc ấy quý lắm. Nàng ta vốn muốn mang lò trà riêng lên cho lão gia, nào ngờ tay cầm lỏng, lò than đổ cả xuống, may mà là mùa đông mặc dày, chứ không thì e bỏng nặng hơn. Dù vậy cũng phồng rộp cả mu chân.”
Hoài Tịch nghe đến đó mà rùng mình, Khương Ly cũng lo lắng:
“Bỏng lửa không nên xem thường, nếu tối nay chưa đỡ, bảo nàng ta đến tìm ta xem qua.”
Mọi người vội vàng đáp lời. Có người nhóm lửa, có người đốt đèn. Đợi màn đêm buông xuống, thuốc đã bắt đầu sôi.
Bỗng có mấy tiếng “cộc cộc” vang ngoài cửa. Khi mọi người quay lại, kẻ bước vào chính là Trương thị.
Hoài Tịch giật mình:
“Tẩu bị thương sao còn tới?”
Trương thị cười gượng:
“Chút thương nhỏ thôi, nghe nói đại tiểu thư ở đây, nô tỳ không dám lười, muốn qua xem có việc gì giúp được.”
Ánh mắt Khương Ly rơi xuống chiếc nạng trong tay và bàn chân phải hơi nhấc của nàng ta:
“Dùng thuốc gì? Có hiệu quả không?”
Trương thị kéo vạt váy lên:
“Là cao dược của Tiết quản gia, nói là rất quý, chắc chắn có tác dụng. Hôm nay đỡ hơn nhiều rồi, xin cô nương đừng bận tâm.”
Khương Ly nhìn thoáng qua, thấy cổ chân nàng ta quấn vải thô, mép vải rịn ra một màu tím nâu. Trương thị vội buông váy xuống, sắc màu ấy chỉ lóe lên một chớp mắt.
Khương Ly biết đó là do thuốc nhuộm, song chẳng hiểu sao lại thấy sắc tím nâu ấy quen thuộc vô cùng — cố nhớ mà không nhớ ra đã gặp ở đâu.
Giờ đã muộn, nàng vừa nói chuyện với người trong bếp, vừa chuyên tâm chế thuốc. Nửa canh sau, dược cao đã nấu xong, nàng cẩn thận cho vào bình ngọc, giao người mang đi.
Sắp xếp xong phòng bếp, Khương Ly lại đích thân đem thuốc đến Liễu Đình viện. Sau khi hỏi kỹ tình hình Giản Hiền, mới quay về. Lúc ấy trời đã gần canh hai.
Thuốc cho Giản Hiền tuy hiệu quả vững vàng, nhưng Đại Lý Tự vẫn chưa có tin, khiến lòng nàng lại dâng nặng nề.
“Trường Cung vẫn chưa vào nội viện sao?”
Hoài Tịch đáp:
“Cô nương cứ yên tâm, nô tỳ luôn để ý, chưa thấy ai đưa tin.”
“Giờ này rồi, Thập An hẳn phải về chứ…”
“Có khi ở Chu Dương gặp trở ngại gì chăng?”
Vừa dứt lời, phía trước hành lang có bốn tiểu đồng khiêng hai bàn tế bằng gỗ tử đàn đi ngang qua.
Thấy chắn đường, họ liền xoay ngang bàn, một trước một sau tránh cho nàng đi.
Khi lướt qua, ánh mắt Khương Ly vô thức liếc lên mặt bàn. Hai chiếc bàn vẫn còn dấu hằn nhang khói chưa tẩy, hẳn là mới dỡ khỏi từ đường.
Ban đầu nàng chẳng mảy may để ý, nhưng vừa đi qua được hai bước, chân nàng bỗng khựng lại. Rồi đột ngột quay phắt lại nhìn hai chiếc bàn ấy—
Thấy sắc mặt nàng tái biến, Hoài Tịch hoảng hốt:
“Cô nương, sao vậy?”
Đôi mắt Khương Ly mở lớn, hơi thở gấp gáp, giọng run lên mà thốt: