Cha anh vã mồ hôi hột, ngã ngồi xuống sofa, đá văng mẹ anh ra: "Tôi biết anh em nhà cô đầu quân cho hội buôn Nhật, cứ ngỡ cô là người tử tế, nào ngờ đúng là cùng một giuộc! Con trai đi làm cách mạng, mẹ với cậu lại muốn làm Hán gian! Đồ sao chổi, năm đó sao tôi lại rước cô về cơ chứ?"
Mẹ anh run cầm cập, mắt đỏ hoe, cúi đầu khom người như con tôm luộc. Cha anh phát hỏa xong mới bình tĩnh lại, không nhanh không chậm dặn dò hạ nhân. Vì con trai, ông sẵn sàng từ bỏ cơ ngơi giàu có này.
"Đứa trẻ ngoan, nhà ta có lỗi với con. Nếu không chê, từ nay về sau cứ đi theo chúng ta. Nếu thằng nghịch tử kia còn sống mà về được..." – Nói chưa dứt câu, cha anh thở dài não nuột, giọng nghẹn ngào không nói tiếp được nữa.
Tôi đỡ cha anh ngồi sang chỗ khác, rồi bình thản nói: "Được bà nội và cha mẹ không chê bai, từ nay về sau, con chính là vợ chính thức của anh ấy."
Gương mặt tôi thản nhiên, như thể đang kể với cha chuyện tối nay ăn gì. Cha anh vô cùng kinh ngạc. Trong tình cảnh này, một khi tôi thừa nhận danh phận đó, nghĩa là tôi chấp nhận thủ tiết chờ đợi, thậm chí là làm góa phụ. Tôi mới bao nhiêu tuổi? Tương lai còn dài, thanh xuân còn phơi phới, vậy mà tôi lại cam lòng chôn vùi tuổi trẻ vì gã đàn ông phiêu bạt kia. Cha anh không kìm được nước mắt, ông không màng kiêng kỵ, vỗ nhẹ lên mu bàn tay tôi, nghẹn ngào thốt lên ba chữ: "Tốt, tốt, tốt lắm!"16
Những ngày này, bên ngoài càng loạn hơn.
Cứ dăm bữa nửa tháng lại có người bị mang ra bắn bỏ, thi thể bị kéo đến cổng thành, treo trên tường cao với tấm bảng đóng đinh vào ngực, viết rằng họ là "phản động". Tiếng súng nổ liên miên, nghe mà cứ ngỡ như tiếng pháo đêm giao thừa. Nghe mãi rồi cũng thành quen, từ nỗi bất an tột độ ban đầu, tôi dần chuyển sang trạng thái chai sạn, dửng dưng.
Cổng thành bị phong tỏa, chỉ cho vào chứ không cho ra.
Kể từ sau cái ngày đám người Nhật kéo đến, mẹ chồng tôi không còn cười lấy một lần. Bà suốt ngày cúi gằm mặt, chẳng rõ đang toan tính hay suy nghĩ điều gì. Bà nội thì đã sức cùng lực kiệt. Cháu trai độc nhất sống chết chưa rõ, bà lo lắng ngày đêm, làm sao mà an tâm cho nổi? Bao nhiêu căn bệnh kinh niên cứ thế ồ ạt kéo về, khiến bà phải có người túc trực bên cạnh không rời nửa bước.
Cha chồng tôi cũng già đi trông thấy, mái tóc vốn còn xanh đen giờ đã lấm tấm những sợi bạc trắng. Đôi khi ông cứ lẩm bẩm một mình, khi thì chửi ông trời, khi thì nguyền rủa quân Nhật, lúc lại mắng nhiếc đứa con trai ngỗ nghịch. Nhưng kết thúc mỗi trận lôi đình ấy luôn là một tiếng thở dài nặng nề. Tiếng thở dài ấy như nện vào lồng ngực tôi, xát thêm muối vào vết thương lòng đang rỉ máu.
Nửa tháng nữa lại trôi qua trong bầu không khí ngột ngạt, hãi hùng. Thành phố giới nghiêm, giá gạo giá mì tăng vọt chóng mặt. Đã mấy lần tôi định nói ra chuyện kho lương của bà nội, nhưng đều bị bà ngăn lại.
"Thế đạo gian nan, lòng người khó đoán. Phòng cướp ngoài không bằng phòng giặc trong, chưa đến đường cùng thì con tuyệt đối không được tiết lộ chuyện này, rõ chưa?" – Bà nằm trên giường bệnh, thều thào dặn dò.
Từ ngày quân Nhật rời đi, bà ngã bệnh không dậy nổi, thời gian thức thì ít mà thời gian mê mệt thì nhiều. Tôi cứ thế chạy đôn chạy đáo ngược xuôi cầu thang, đôi chân bó đau nhức không biết bao nhiêu lần, nhưng tôi đều cắn răng chịu đựng. Cuối cùng, vào một đêm khuya, bà nội ho khẽ vài tiếng rồi vĩnh viễn không tỉnh lại nữa.
Trong nhà treo trắng xóa vải tang. Tôi khóc đến lặng người. Ở cái nhà này, ngoài anh ra, bà nội là người đối xử tốt với tôi nhất. Hoặc có lẽ, đây là tiếng khóc bi thương của hai thế hệ đàn bà chân bó cùng chung số phận. Giờ đây, anh thì bặt vô âm tín, bà nội đã qua đời, tôi chẳng biết mình phải chống chọi tiếp thế nào đây.
Đêm đến, tôi túc trực bên linh cữu. Dù danh nghĩa chỉ là cháu dâu chưa quá cửa, nhưng tôi vẫn tận tụy lo toan mọi việc lớn nhỏ. Cổng nhà lâu ngày không ai quét dọn, cỏ dại mọc đầy, trông thật thê lương. Có lẽ vì lòng tôi cũng đã mọc đầy cỏ hoang, nên nhìn đâu cũng thấy một màu héo úa. Khách đến viếng cũng thưa thớt, chẳng còn vẻ tấp nập, hào nhoáng như xưa.
Tôi bưng chiếc khay vừa mới lấy từ phòng cha chồng sau khi đưa cơm cho ông. Tôi đã đổi cách xưng hô, gọi cha mẹ anh là "cha, mẹ" tự bao giờ. Đang bước về phía nhà bếp, đột nhiên từ góc tối bên đường mòn, một bóng đen vọt ra. Tôi hoảng hồn, định vung cái khay lên đập tới tấp thì khựng lại dưới ánh trăng mờ ảo.
Cổ họng tôi phát ra những tiếng "hực hực" nghẹn ứ, hơi thở dồn dập, lồng ngực phập phồng dữ dội. Hóa ra, khi người ta cực kỳ hưng phấn và xúc động, người ta lại chẳng thể thét lên được. Tôi đưa bàn tay lạnh ngắt chạm vào gương mặt mà tôi hằng đêm mong nhớ.
"Anh không có nhiều thời gian, anh lén về để lạy bà một lạy." – Anh gầy đi nhiều quá, hai má hóp lại, râu ria lởm chởm như một gã phong trần. "Lạy xong anh phải đi ngay." – Anh thì thào.
Tiểu thiếu gia của tôi, cuối cùng đã hoàn toàn từ bỏ cuộc sống nhung lụa.
"Vâng." – Dù có ngàn lời muốn nói, tôi cũng chỉ thốt ra được một chữ duy nhất ấy. Ngón tay anh lướt qua làn môi khô nẻ của tôi. Cân nhắc một hồi, anh dúi vào lòng tôi một gói đồ.
"Nếu gặp được quân cách mạng, nhất định phải giao cái này cho họ. Anh sợ mình không thoát ra nổi."
Tôi nhận lấy, giấu chặt vào lòng. Đó là danh sách những người hoạt động cách mạng, ghi chép chi tiết mật danh và nơi ở của từng người. Vì danh sách này mà biết bao người đã ngã xuống, lũ cầm thú Nhật kia chẳng từ một thủ đoạn tàn độc nào để lùng sục. Anh biết, lẽ ra không nên kéo tôi vào vũng nước đục này, nhưng anh càng sợ danh sách này sẽ bị bại lộ.
Trước khi đi, anh không kìm lòng được mà đặt lên môi tôi một nụ hôn sâu hoắm.