Chim Én Trước Nhà Vương, Tạ Năm Xưa

Chương 13



Như có linh tính, tôi gạt đám đông lao thẳng vào trong. Ba đứa trẻ đang khóc ngất bên giường. Cha chồng tôi, đôi tay đặt lên ngực, đôi mắt đã nhắm nghiền, ông đã cưỡi hạc quy tiên. Con gà quay trong tay tôi rơi xuống đất, tôi phủ phục bên giường mà khóc than thảm thiết.

Anh lính lại gần kéo tôi dậy, che chở tôi trong lòng, nén đau thương khuyên tôi đưa lũ trẻ xuống núi, từ nay sẽ là những ngày tươi sáng. Tôi cứ thế đấm thụi vào ngực anh ta, lẩm bẩm: "Sao anh bây giờ mới đến? Sao bây giờ mới đến?"

Anh lính cảm nhận được rằng tôi dường như đang nhìn xuyên qua anh ta để tìm kiếm một linh hồn khác. Anh không muốn tôi đau lòng thêm, liền ra lệnh cho cấp dưới lo liệu hậu sự cho ông cụ thật chu toàn.

Chỉ trong một đêm, quân Nhật đầu hàng, nhưng tôi cũng mất đi những người thân thiết cuối cùng.

21

Tôi đưa ba đứa trẻ xuống núi. Anh lính biết đó là những đứa trẻ tôi nhặt về nên tất bật lo liệu nơi ăn chốn ở cho chúng tôi.

Còn tôi, tôi như một xác không hồn, không cười cũng chẳng khóc. Đôi mắt mất đi thần thái ngày thường, gương mặt nhỏ nhắn hốc hác hẳn đi, trông như một trái mơ khô héo. Tôi cầm tấm ảnh chụp chung duy nhất của chúng tôi, thẫn thờ nhìn suốt ba ngày trời. Ba ngày ấy, dù ai khuyên nhủ thế nào tôi cũng không lay chuyển.

Có người đi nghe ngóng tin tức về anh nhưng chẳng thu hoạch được gì, cứ như thể trên đời này chưa từng tồn tại người đàn ông ấy vậy.

Đến ngày thứ tư, tôi cất tấm ảnh đi, bước những bước nhỏ vụn, lảo đảo đi ra ngoài. Anh lính thấy tôi ra thì mừng lắm, mồ hôi nhễ nhại trên trán lấp lánh dưới nắng.

"Tôi biết các anh đều là những người lính tốt. Vì thế, tôi muốn giao lại bản danh sách này. Đây là... thứ mà chồng tôi đã trao cho tôi trong lần cuối chúng tôi gặp mặt. Vì nó mà bao nhiêu người đã hy sinh, có lẽ... bao gồm cả chồng tôi."

Giọng tôi bình thản như đang kể một câu chuyện cũ chẳng mấy quan trọng. Tôi ngẩng đầu lên, dường như đã rất lâu rồi tôi mới thấy ánh mặt trời rực rỡ đến thế. Gương mặt anh lính đanh lại đầy nghiêm trọng, anh không dám nhận ngay mà vội vàng báo cáo lên cấp trên.

Rất nhanh sau đó, người của cấp trên tìm đến. Họ vô cùng xúc động, đôi tay đeo găng trắng run rẩy lật xem từng trang tài liệu. Có người nói gì đó với tôi, nhưng tai tôi chẳng còn nghe thấy gì nữa. Tôi chỉ cảm thấy mọi việc trên thế gian này đã kết thúc, chẳng còn gì để tôi phải bận lòng thêm.

Tôi ngã bệnh. Tôi hôn mê suốt nửa tháng trời. Trong nửa tháng ấy, anh lính luôn túc trực chăm sóc, ba đứa trẻ tôi nhặt về cũng túc trực ở bệnh viện, không rời nửa bước. Tôi mơ thấy rất nhiều điều, mơ thấy những kỷ niệm nhỏ nhặt giữa tôi và anh, nhưng tại sao tôi lại không nhìn rõ mặt anh nữa? Tôi khóc, tôi gọi tên anh, đôi tay quờ quạng giữa không trung, và chính anh lính là người đã nắm lấy tay tôi, vỗ về tôi.

Cuối cùng tôi cũng tỉnh lại. Ba đứa trẻ khóc nấc lên vì sợ mất đi người thân duy nhất. Tôi xoa đầu từng đứa. Lúc mới nhặt về, đứa lớn nhất chỉ cao đến thắt lưng tôi vì suy dinh dưỡng, giờ đã là những chàng trai cao lớn vững chãi. Tôi giơ tay lên, đứa lớn phải cúi thấp đầu xuống tôi mới chạm tới được.

Tôi chợt mỉm cười. Anh lính bưng bát canh gà bước vào, đúng lúc bắt gặp nụ cười hiếm hoi ấy của tôi. Anh sững sờ, đứng ngây ra như thể có điều gì đó vừa chạm sâu vào trái tim mình. Đôi tay bưng bát canh cũng run run không vững. Anh kiếm cớ bảo lũ trẻ cho tôi uống canh rồi vội vàng rời phòng bệnh.

Có lũ trẻ để lo lắng, tôi dường như đã tìm thấy dũng khí để sống tiếp. Cấp trên muốn tuyên dương tôi vì đã bảo vệ bản danh sách, bảo vệ những vị anh hùng, nên tổ chức một buổi lễ khen thưởng. Tôi không muốn đi, nhưng anh lính khuyên tôi nên tham gia.

"Để các đồng chí thấy được, một người phụ nữ đã chống chọi để bảo vệ một gia đình, mang lại hy vọng và sức sống như thế nào."

Nhìn ánh mắt khích lệ của anh lính, tôi lại nhớ đến tiểu thiếu gia của mình. Anh cũng từng nói những lời tương tự như vậy. Tôi quẹt nước mắt, gật đầu đồng ý.

22

Tòa nhà hai tầng năm xưa giờ được sửa sang thành trường học cho con em cán bộ. Từng tấc đất quen thuộc nay vang vọng tiếng đọc bài của trẻ thơ. Vì biết tiếng Anh, tôi xin vào đây làm giáo viên. Lũ trẻ là hậu duệ của các quân nhân, những năm tháng chiến tranh chẳng được học hành gì nhiều, giờ có trường lớp, có thầy cô, chúng được tự do học tập.

Chỉ là có vài đứa trẻ tỏ ý không hài lòng về đôi chân bó của tôi. Chúng chế giễu tôi, đặt cho tôi những biệt danh khó nghe. Trong giờ học, chúng không nghiêm túc, còn cố tình vo giấy ném vào chân tôi. Tôi không giận. Viết xong bài lên bảng, tôi quay lại, chậm rãi kể cho chúng nghe một câu chuyện.

Tôi bảo: "Nơi các em đang ngồi, vốn dĩ là nơi đặt linh cữu của bà nội ngôi nhà này."

Tiếng cười đùa im bặt. Có đứa bướng bỉnh hỏi sao tôi lại biết. Tôi mỉm cười: "Bởi vì, đây vốn là nhà của cô!"

Đó là lần đầu tiên tôi nhắc về quá khứ của mình. Anh lính lúc ấy đang đứng ngoài cửa sổ, định lắng nghe cho kỹ, nhưng tôi chỉ nói đến đó rồi thôi, không muốn kể thêm nữa. Lớp học ồn ào trở nên im lặng, tôi hài lòng gật đầu, tiếp tục viết chữ Tây lên bảng. Anh lính nhìn bóng lưng tôi, thẩn thờ xuất thần.