Chim Én Trước Nhà Vương, Tạ Năm Xưa

Chương 11



Chúng tôi không chỉ phải nhận, mà còn phải tổ chức một tang lễ thật long trọng, ai nấy đều phải khóc than thảm thiết hơn cả khi bà nội mất. Khó khăn lắm mới đuổi khéo được tên Hán gian, vậy mà mẹ chồng lại ra nông nỗi ấy. Kết quả là quân Nhật để mắt tới tôi, định bắt tôi đi. Nếu cha không chấp nhận ký giấy tặng không tòa nhà văn phòng kiểu Tây cho chúng, có lẽ tôi đã chẳng còn cơ hội mà khóc nữa rồi.

Nói không hận mẹ chồng là nói dối. Nhưng tôi không ngờ, để trừ hậu họa về sau, cha đã dứt khoát ly hôn với bà. Mẹ chồng thất thần rời đi, đến cả quần áo trang sức cũng chẳng mang theo món nào. Không một ai hỏi han xem bà đi đâu, cứ như thể con người ấy chưa từng hiện hữu trong gia đình này vậy.

Tôi thẫn thờ nhìn đôi tất kính mà bà tặng ngày nào, những tiếng cười nói vui vẻ như vẫn còn đâu đây. Nhưng tại sao, tại sao mọi thứ lại thay đổi đến mức này?

Cha bàn với tôi rằng nơi này không thể ở lâu, chúng tôi cần rời đi ngay trong đêm. Cha cho người hầu giải tán, rồi nhờ người quen lo lót được tờ giấy thông hành ra khỏi thành, ông hỏi tôi có muốn đi không. Tôi nhìn lại căn phòng mình đã ở bấy lâu, mỗi góc nhỏ đều in đậm hình bóng của anh. Suy nghĩ hồi lâu, tôi cắt tấm ảnh chụp chung duy nhất của mình và anh, giấu kỹ vào lớp áo trong, đặt sát bên bản danh sách kia. Chuyện này ngay cả cha cũng không biết.

Cũng may tôi chưa nói ra tất cả, nếu không, chẳng biết mẹ chồng có vì nôn nóng tìm con mà làm lộ bản danh sách này không. Tôi đưa tay sờ tấm ảnh qua lớp áo. Anh đã bảo tôi phải vì anh mà sống tiếp. Vậy thì tôi sẽ nỗ lực mà sống. Mang theo cả kỳ vọng và hy vọng của anh.

Vì ra đi trong đêm nên không thể mang theo nhiều đồ đạc, tôi và cha phải nép mình trên một chiếc xe ngựa chở đầy thức ăn thừa và rác rưởi. Giữa mùi hôi thối nồng nặc, cuối cùng chúng tôi cũng thoát được ra ngoài.

Cứ ngỡ thoát ra được sẽ có tia hy vọng mới, nào ngờ tứ phía đều là cảnh hoang tàn đổ nát. Quân Nhật thực hiện chính sách "ba sạch": giết sạch, đốt sạch, phá sạch. Đâu đâu cũng là cảnh dân lầm than, thê lương đến tột cùng. Ban đầu, tôi còn mủi lòng chia chút lương khô cho những người lánh nạn khác. Nhưng rồi tôi nhận ra, lòng người hiểm ác khôn lường, có kẻ thấy tôi gầy gò lại mang đôi chân bó nên đã nảy ý đồ xấu. Nếu không có khẩu súng trong tay cha thị uy, có lẽ tôi đã bị người ta "ăn tươi nuốt sống" từ lâu rồi.

Suy tính kỹ, tôi quyết định nói cho cha biết về kho lương của bà nội. Nghe xong, một người đàn ông đã trải bao sương gió như cha lại đỏ hoe mắt. Ông thở dài, chậm rãi bảo tôi:

"Bà nội lúc sinh thời từng dặn cha: Nếu con không nhắc đến, cha phải coi như không biết gì. Còn nếu con chủ động nói ra, nghĩa là con đã dành cho cha sự hiếu thảo tuyệt đối, coi cha là người thân thiết nhất, và cha phải đối xử với con như con gái ruột thịt..."

Nói đến đó, cả hai chúng tôi đều khóc. Không ngờ đến lúc lâm chung bà nội vẫn để lại "đòn cân não" này, chính là để cho tôi có một sự lựa chọn cuối cùng. Nếu tôi cả đời không nói, cha cũng cả đời không được vào núi, vì bà đã dặn: đó là của để dành cho cháu dâu, ai cũng không được tơ hào, dù có chết đói.

tôi sụt sịt, quỳ xuống lạy cha một lạy: "Nếu cha không chê, từ nay về sau, cha chính là cha ruột của con!"

Cha lau nước mắt, xúc động đỡ tôi dậy: "Con gái ngoan, cha sinh được thằng con trai nhưng chẳng được hưởng phúc gì từ nó, không ngờ lúc tuổi già lại có thêm một đứa con gái, xem ra ông trời vẫn còn đối xử với cha không tệ!"

Hai cha con dìu dắt nhau, tránh xa những nơi đông người, cuối cùng cũng đến được chân núi một cách bình an. Tôi mang đôi chân bó, suốt chặng đường chạy nạn, lòng bàn chân sớm đã nát bấy. Tôi thử tháo vải bó ra nhưng phát hiện nỗi đau ấy còn khó dung thứ hơn cả lúc bó chân. Bốn ngón chân đã gập sâu vào lòng bàn chân bao năm qua, nay đã trở thành một phần của da thịt, có cố duỗi ra cũng chỉ thêm đau đớn. Tôi nghiến răng chịu đựng, nỗi đau bó chân tôi còn nhịn được, lẽ nào lại sợ leo núi?

19

Cuộc sống trên núi là một thử thách lớn đối với cả hai cha con. Thiếu vắng người hầu hạ, cả hai chúng tôi đến cả việc đun nước cũng chẳng biết làm. Ban đầu cha còn dám thường xuyên xuống huyện lân cận mua đồ ăn, sau này chiến sự căng thẳng, cha không dám mạo hiểm nữa, hai cha con tôi thực sự đã phải nếm mùi cực khổ.

Cơm nấu thì khét, nước đun thì chát, mãi mới nắm vững được kỹ năng sinh tồn. Chúng tôi cũng không dám nhóm lửa quá to hay để khói bốc lên nhiều, sợ bị người ta phát hiện ra trên núi có người ở. Thi thoảng tôi lại theo cha lẻn xuống núi, nhặt được vài đứa trẻ mồ côi không nơi nương tựa. Bàn bạc với cha xong, chúng tôi đưa chúng lên núi. Khả năng có hạn, chúng tôi không thể giúp được quá nhiều người, cũng sợ thu hút sự chú ý của kẻ xấu rồi rước họa vào thân.

Trên núi như một thế giới tách biệt, tôi đưa về ba đứa trẻ. Với đôi chân bó, tôi tất bật giặt giũ, chăm sóc cho ba đứa, chẳng khác nào một bà vú già. Lũ trẻ đều là dân khổ cực, cha mẹ chết dưới tay quân Nhật, đứa lớn nhất mới tám tuổi, đứa nhỏ nhất lên ba nhưng đứa nào cũng hiểu chuyện, thấy tôi vất vả là xúm lại giúp việc nhà trong khả năng của chúng.