Sau tuổi mười tám, ta cứ ngỡ sẽ tìm được một chỗ làm việc đàng hoàng, ai ngờ mười ba tuổi ta đã bỏ học.
Hồi tiểu học, cha mẹ đăng ký cho ta vô số lớp năng khiếu, khi ấy họ mong ta sau này trở thành họa sĩ hay nhà thư pháp lừng danh, nhưng ai mà ngờ được học vấn của ta mãi mãi dừng lại ở bậc tiểu học?
Một nơi làm việc tử tế, liệu có ai muốn nhận một kẻ thường xuyên bị bắt giam, lại chỉ có bằng tiểu học như ta không?
Thế là ta từng làm bảo vệ ở hộp đêm, chuyên giải quyết đám say xỉn; làm lễ tân ở trung tâm tắm hơi, chuyên xoa dịu đám ma cô; rồi lại đi bán xèng ở sòng bạc, bưng trái cây ở phòng karaoke.
Đó đã là những công việc “đàng hoàng” nhất mà ta có thể tìm được rồi.
Nhưng chẳng biết do ta tự cao tự đại hay không quen với những việc làm của họ, mà chẳng có nghề nào ta trụ được lâu.
Vài năm trời ta đổi không biết bao nhiêu công việc, cuối cùng vẫn phải rời bỏ chốn phồn hoa đô thị, thuê một cái sạp nhỏ ở chợ.
Ban đầu ta học theo người ta bày cờ tàn, chuyên “săn” mấy ông già rảnh rỗi.
Mỗi ván mười đồng, thắng thì trả lại một trăm.
Mấy ông già dường như không tài nào hiểu nổi, hễ là cờ tàn đã bày ra thì họ nhất định không thắng được.
Họ chỉ cho rằng mình từng trải, lý luận đầy mình, muốn dạy dỗ ta, cái thằng nhóc không biết trời cao đất dày này.
Bày cờ tàn hơn một năm, ta chỉ thấy mệt mỏi.
Đặc tính của mấy ông trung niên ngoài việc thích dạy đời ta ra, còn có tật không chịu nhận thua.
Suốt một năm qua, hầu như không một ai trong số những ông già đến thách đấu cờ tàn chịu thua một cách quang minh chính đại.
Chẳng biết có phải vì có quá nhiều người vây xem nên họ không muốn mất mặt, hay vì thua một đứa nhóc như ta khiến họ cảm thấy xấu hổ, tóm lại họ chỉ nói chắc chắn có chỗ nào đó không đúng.
Ván cờ tàn đơn giản này chỗ này không đúng, chỗ kia không đúng, chỉ có họ là đúng.
Có người nói ta chơi gian, có người nói ta trộm quân, có người muốn đi lại mấy nước trước, có người thì bỗng dưng tỉnh ngộ nói ván cờ này ngay từ đầu đã không thể thắng được.
Những ông không giỏi ăn nói thì bắt đầu suy nghĩ cực kỳ lâu, mỗi nước đi đều cố kéo dài đến hai mươi phút, họ nhìn chằm chằm vào bàn cờ, như thể hy vọng trên thế cờ chắc chắn phải chết này bỗng dưng xuất hiện mấy vị thiên binh thiên tướng.
Dù các ngươi có gọi thế nào, họ cũng chỉ nói “Để ta nghĩ đã”, “Đợi chút”, đáng lẽ một ngày có thể kiếm được năm mươi đồng, lại bị những người này kéo đến mức chỉ còn hai mươi.
Tóm lại họ sẽ không nói ra câu “Ta thua rồi”.
Thừa nhận thất bại khó đến thế sao?
Ta hai mươi mấy tuổi đầu đã phải đi lừa tiền mười đồng của mấy ông già rồi, vậy mà những người bị lừa tiền này lại cứ cho rằng mình thông minh hơn ta?
Còn có một số ít trường hợp, mấy ông già thua cuộc này sẽ ném cờ xuống đất ngay tại chỗ, sau đó hùng hồn nói ta trả lại tiền hoặc chơi lại ván nữa.
Nếu ta không chịu, họ sẽ lật tung sạp cờ của ta.
Không biết trước đây họ là cán bộ hay lãnh đạo, cái thái độ nói một là một, làm việc dứt khoát ấy có lẽ thích hợp ở cơ quan, nhưng lại vô cùng hiếm thấy ở chốn chợ búa này.
Ta niêm yết giá rõ ràng, đã cược thì phải chịu thua, từ đầu đến cuối đều có một đám người vây xem, ta làm sao có thể giở trò được?
Nếu sớm đã nhìn ra ván cờ này không thể thắng, thì đừng ném mười đồng vào.
Nhưng ta có thể chống lại họ sao?
Thật sự mà ầm ĩ lên hay động tay động chân ở đây, dù họ có báo cảnh sát hay không, người chịu thiệt vẫn là ta.
Dù sao thì tôn trọng người già yêu trẻ nhỏ là truyền thống tốt đẹp, chẳng ai lại muốn bênh vực một gã bán cờ tàn ở chợ cả.
Đến lúc đó ta không chỉ phải trả lại mười đồng, mà có khi còn phải bồi thêm.
Cho nên ta sẽ có thái độ hoàn toàn khác với mấy ông già, một khi ta phát hiện mình không thể thắng được trận chiến đạo đức này, ta sẽ nhận thua và bồi tiền ngay lập tức.
Mấy năm sau đó, ta nhiều lần điều chỉnh các “dịch vụ” của sạp hàng, đồng thời học thêm nhiều mánh khóe lừa đảo.
Hoặc là đoán hạt dưa, vốc một nắm hạt dưa rải xuống đất rồi bảo người ta đoán xem tổng số là lẻ hay chẵn.
Trong đó có một hạt dưa được gắn viên bi sắt, tay thì giấu một cục nam châm, ta nói lẻ là lẻ, ta nói chẵn là chẵn.
Hoặc là đoán bài, cố ý cho người ta xem hết bài trên tay rồi xào bài một cách sơ hở, nhưng thực tế là ta muốn ra con nào thì ra con đó, ta muốn ngươi thua thì ngươi sẽ thua.
Thông thường một người học mánh khóe ảo thuật cần có năng khiếu và sự kiên nhẫn cực cao, nhưng nếu đặt ngươi vào chốn chợ búa thật sự, để những trò ảo thuật nhỏ này trở thành phương tiện duy nhất để ngươi kiếm sống, và nếu thất bại thì ngươi sẽ bị người ta gây sự, đánh đập, thậm chí tống vào tù...
Thì ai cũng có thể học rất nhanh thôi.
So với hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra, mọi sự trả giá đều trở nên chẳng đáng gì.
Nhưng những trò lừa đảo truyền thống này rốt cuộc cũng chỉ là liếm máu trên lưỡi dao, không phải là kế lâu dài, lâu dần trò của ta sẽ lan truyền khắp xóm giềng, khiến việc buôn bán ngày càng khó khăn.
Hơn nữa, một khi có một phương pháp kiếm tiền xuất hiện, những kẻ bắt chước cũng sẽ dần tăng lên.
Rốt cuộc có cách nào... để người ta cam tâm tình nguyện bị lừa, không gây rắc rối cho ta, mà lại không ai có thể bắt chước được?
Sau này, vì không trả nổi tiền quản lý sạp, ta bị đám đầu gấu địa phương quấy rối liên tục một tuần, đến khi ta hoàn toàn không thể làm ăn được nữa thì mới chịu buông tha.
Trằn trọc mãi, ta đến một con phố đồ cổ trong thành phố, phát hiện ra nơi này cũng chẳng khác gì cái chợ kia.
Tuy phần lớn đều là đồ cổ, nhưng vẫn có một vài sạp giải trí như nặn tò he, ném vòng, bắn súng.
Thế là ta tìm đến người quản lý phố đồ cổ, thỏa thuận thuê một sạp với giá 300 tệ một tháng, tuy đắt hơn ở chợ một chút, nhưng ở đây có bảo vệ bảy mươi tuổi.
Mong là ông ta có thể bảo vệ an toàn cho ta, để ta không bị người ta đánh cho chạy khắp phố, cuối cùng thở không ra hơi mà nằm bẹp trên đống bắp cải thối rữa.
Ngay khi ta chuẩn bị bắt đầu con đường lừa đảo ở phố đồ cổ, thì lại bị những bức tranh thư pháp của các sạp khác thu hút sự chú ý.
Ta cảm thấy hơi nghi ngờ, thế là đi từ đầu phố đến cuối phố, săm soi tất cả các tác phẩm ở đây, những bức tranh vẽ vụng về, đến cả nét bút cũng có vấn đề lớn, hỏi ra thì mỗi bức lại có giá ba bốn trăm tệ.
Hóa ra dân trí thức dễ kiếm tiền là thật.
Ta cuối cùng cũng tìm được một con đường an toàn, kỳ dị, không ai có thể bắt chước được.
Đó chính là làm giả quạt thư pháp.
Ta chưa bao giờ nghĩ rằng mấy năm học năng khiếu hồi nhỏ lại có thể phát huy tác dụng ở một nơi kỳ lạ như thế này.
Ta cũng chưa bao giờ nghĩ rằng lời thầy cô khen ta có năng khiếu thư pháp và hội họa hồi bé lại là thật.
Ta từ bỏ những trò lừa đảo nhỏ nhặt, thay vào đó mua một đống quạt giấy trắng, bế quan vài ngày, “sản xuất” ra lô hàng đầu tiên của ta –
Quạt thư pháp đề chữ Đường Dần.
Vì ta lo mình không làm ra được phong thái của bậc thầy, dễ bị người ta coi là hàng giả, ngược lại còn gây thêm rắc rối cho mình. Cho nên dứt khoát chủ động định vị những sản phẩm này là hàng nhái, khi đề tên đã làm chút thủ thuật.
Như vậy dân chuyên nghiệp chắc chắn sẽ không mua, cho dù có đến bắt ta, ta cũng có lý do để giải thích.
Về phần định giá – ta không có cái bụng lớn đến thế, dám hét giá ba bốn trăm tệ như họ, thế là mỗi chiếc ta chỉ bán năm mươi tệ.