Hạc Lệ Trường An

Chương 60: Liệt khuyển thực nhân



Tiếng xe ngựa lộc cộc, lòng Khương Ly cũng trầm xuống tận đáy.

Từ khi ở Thọ An bá phủ tình cờ tái ngộ Bùi Yến, nàng vốn tự tin mình không hề lộ sơ hở. Năm năm xa cách, dung mạo đã đổi, tính tình cũng khác, dù tuổi tác và y thuật tương đồng với người xưa, nhưng chỉ dựa vào đó, sao có thể nhận ra? Năm ấy, nàng rõ ràng chết trong biển lửa, trước bao đôi mắt chứng kiến.

Thế nhưng Bùi Yến… dường như từ rất sớm đã phát hiện điều khác thường.

Trong vụ Tân nương đồ phu, hắn chủ động mời nàng khám nghiệm tử thi, lại thẳng thắn tiết lộ những chi tiết không thể truyền ra ngoài. Ở Đại Lý Tự, chén trà Hoắc Sơn Hoàng Nha; tại phủ lão phu nhân họ Bùi, bữa cơm cay nồng cùng bánh hoa ngọt ngào…

Nếu chỉ một hai chuyện, còn có thể coi là trùng hợp. Nhưng xâu chuỗi với hành động hôm nay – bản năng che chắn trước hai con chó săn – thì chỉ có một đáp án duy nhất:

Bùi Yến đã biết nàng là ai, và biết từ rất sớm.

Mày nàng nhíu chặt, càng nghĩ càng chẳng thông, bản thân rốt cuộc sơ hở ở đâu?

Hoài Tịch nhìn sắc mặt chủ tử càng lúc càng nặng nề, lo lắng hỏi:

“Cô nương, xảy ra chuyện gì sao?”

Khương Ly hít sâu, ép mình trấn tĩnh:

“Quả là có chút biến cố ngoài dự liệu, nhưng chưa rõ là lành hay dữ.”

Hoài Tịch khẽ chau mày:

“Có liên quan đến vụ án của Tần đại nhân?”

Khương Ly liếc chiếc khăn tay cùng gói giấy dầu trong tay:

“Không liên quan. Ngươi đừng lo. Ít nhất ta đã nắm được điều cần nắm. Vừa hay, cứ để xem hắn định làm gì.”

Lời nói mơ hồ, Hoài Tịch nghe không hiểu, chỉ tưởng nàng nhắc đến manh mối vụ án.

Về tới Doanh Nguyệt Lâu, Khương Ly lập tức mở gói giấy dầu.

Rửa tay sạch sẽ, nàng lấy kẹp tre cùng dao liễu, từ tốn gạt bỏ lớp than cháy, chỉ thấy lõi bên trong màu nâu sẫm.

“Chưa kịp hóa thành than… trông như một loại rễ, củ gì đó.”

Hoài Tịch ở bên:

“Là dược liệu sao?”

Khương Ly cẩn thận ngửi, nhưng phần vụn đã bị nung cháy khô cứng, mùi hương không còn. Lại thử thêm mấy mẩu khác, kết quả cũng chẳng rõ hơn.

Nàng cau mày:

“Bị cháy giòn, không thể nhận ra được.”

Hoài Tịch nghĩ ngợi:

“Có thể là hương liệu?”

Khương Ly lắc đầu:

“Nơi khác thì có thể, nhưng ở Phật đường thì không. Tần Đồ Nam cực kỳ coi trọng nơi ấy, đã đốt hương Phật thì sẽ không thêm hương liệu lẫn lộn. Vật này, hoặc ta đa nghi, hoặc chính là then chốt. Tiếc là học vấn y dược của ta chưa đủ tinh thâm.”

Nàng trầm ngâm một lúc, quyết định:

“Ngày mai tới dược phòng dò xét thử.”



Sáng sớm hôm sau, nàng gọi Tiết Thái, cùng đi về dược phòng của Tiết phủ.

Tiết Thái không rõ nàng muốn làm gì, vừa đi vừa nói:

“Phủ ta có đủ thuốc thường dùng, phòng bất trắc. Trước kia còn mời một vị phủ y thường trú, nhưng từ khi lão thái gia qua đời, vị ấy tuổi cao, xin cáo lui về quê. Từ ấy về sau, nếu có trọng bệnh đều phải mời Kim thái y bên Thái y thự tới.”

Dược phòng nằm ở góc tây bắc, sát kho phủ, chiếm cả một dãy. Tiết Thái mở khóa, bên trong hiện ra hai vách đầy ngăn tủ thuốc, gọn gàng tề chỉnh.

Khương Ly có chút hài lòng, quay lại dặn:

“Ta muốn tra soát một lượt, Thái thúc cứ yên tâm lo việc khác.”

Tiết Thái ừ một tiếng, vẫn lưu một tiểu đồng ở cửa chờ sai.

Khương Ly bắt đầu từ dãy phía tây, từng ngăn từng ngăn mở ra, so sánh với mẩu cháy tối qua. Vì nghi ngờ vật kia là rễ hoặc củ, nàng chỉ chú ý tới các loại dược tính dạng căn, củ, khối.

Nàng cùng Hoài Tịch bận rộn suốt buổi sáng, so đến hơn ba mươi loại, mới khoanh được vài thứ tương tự.

Khương Ly cau mày:

“Tam thất thì không phải, sâm cũng không giống. Phụ tử, khô la, thiên khuê căn, quỷ phiến, hà thủ ô… đều không đúng. Những vị này tuy có chút độc, nhưng ném vào lò than thì có ích gì?”

Nàng càng nghĩ càng không hiểu.

Hoài Tịch liếc qua nửa dãy tủ phía đông còn chưa mở, dè dặt nói:

“Có lẽ không nằm trong số này. Nhưng nếu muốn xem hết, e phải tốn thêm cả ngày. Mà chiều nay cô nương còn định sang Tần phủ không?”

Khương Ly gật, sai tiểu đồng ở cửa:

“Ngươi chạy tới Tần phủ báo một tiếng: nói ta tối nay mới sang.”

Tiểu đồng lập tức vâng mệnh.

Khương Ly ngó sắc trời ngoài viện, rồi quay lại tiếp tục mở ngăn tủ.

Hoài Tịch khẽ thì thầm:

“Hôm nay đã hai mươi chín tháng Chạp. Ngày mai là đêm trừ tịch. Xem ra án của Tần đại nhân chẳng thể phá xong trước năm mới…”

Dứt lời, nàng hạ giọng hơn:

“Không biết các chủ nhân sẽ đón giao thừa ở đâu.”

Ngón tay Khương Ly vẫn miết trên ngăn tủ, nhẹ đáp:

“Tiểu sư phụ hẳn đã có chỗ nghỉ chân. Hắn đến đi như gió, ta giờ ở trong Tiết phủ, càng khó gặp. Trừ phi chính hắn tìm tới.”

Trong viện chẳng ai ngoài hai người, Hoài Tịch liền cười:

“Ngày kia là sinh thần cô nương. Vừa hay các chủ nhân ở Trường An, nhất định sẽ tới chúc mừng. Mấy năm nay, chưa lần nào ngài ấy vắng mặt trong ngày sinh thần của cô nương cả.”

Khương Ly nghe vậy, trong lòng thoáng ấm áp, khẽ đáp:

“Chỉ là Củng Vệ ty đang gắt gao truy bắt, Diêu Chương bám riết không tha. Hắn có giữ được đến rằm cũng khó nói. Huống hồ, mấy năm qua hắn chưa từng nhắc chuyện cũ của nhà họ Thẩm. Lần này trở lại, ngoài Tần Đồ Nam, e còn những chuyện chưa dứt.”

Hoài Tịch nghe vậy, khó nén phẫn uất:

“Các chủ tuy giết nhiều người, nhưng cứu người càng nhiều hơn. Năm ấy, Bàn Long môn bị hãm hại, nếu không nhờ các chủ, nô tỳ sớm đã chết trong tay lũ ác tặc. Nếu không nhờ cô nương y thuật cao minh, nô tỳ cũng chẳng còn ngày hôm nay. Trong ma giáo, ai nấy đều tâm phục khẩu phục, sẵn sàng nghe lệnh các chủ, chỉ là các chủ không muốn mượn tay kẻ khác, nên nô tỳ cũng chỉ đành bất lực.”

Khương Ly nghe xong, tay lại càng nhanh, giọng trầm tĩnh:

“Bất luận thế nào, trước hết phải điều tra rõ Tần Đồ Nam chết vì cớ gì.”

Trong dược điển ghi chép hơn bốn, năm ngàn loại thảo dược, riêng rễ, củ, khối thân đã hơn một trăm mục, mỗi mục lại chia ra nhiều phân nhánh, tính ra có tới hàng trăm. Nếu còn nguyên dược tính thì dễ đối chiếu, nhưng chút tro tàn kia đã cháy xém, đặc tính toàn mất. Nàng dẫu học vấn uyên bác, nhất thời cũng chẳng lần ra manh mối.

Suốt từ sáng đến tận giờ Dậu, trên bàn dược phòng đã bày đầy hơn hai, ba chục vị thuốc, song đối chiếu đều vô ích. Trời đã muộn, Khương Ly nhớ lời hứa hằng ngày phải tới chẩn mạch, bèn đành khởi hành sang Tần phủ.

Xe ngựa lộc cộc, nàng chau mày trầm tư mãi không thôi. Tới cửa phủ, mới gắng gượng lấy lại tinh thần bước vào.

Lúc này màn đêm vừa buông, đèn tang trong tiền viện thắp sáng la liệt. Ngoài tường, từng tràng khóc ai oán bị gió đông thổi tan loãng, nghe như nghẹn lại trong cổ. Hôm nay không thấy Tần Kha ở tiền viện, mà chính là Trình ma ma đích thân ra đón.

Bà hành lễ, tay cầm lồng đèn đi trước dẫn đường, vừa đi vừa nói:

“Hôm qua dùng thuốc của cô nương, tối nay nương nương đã ngủ thêm được ít nhiều. Ban ngày vẫn ít nói, nhưng cũng không còn lải nhải chuyện sống chết, quả nhiên là thần y.”

Khương Ly hỏi:

“Tô di nương có nói với ma ma điều chi trong lòng không?”

Trình ma ma ngập ngừng:

“Cô nương thật cảm thấy nương nương có chuyện giấu kín?”

Khương Ly đáp:

“Chứng bệnh của di nương là do tâm sự u uất lâu ngày. Ma ma chỉ nói từ sau khi phu nhân mất thì nàng ấy buồn mà đổ bệnh. Nhưng ta biết, nàng ấy với phu nhân không hề có quan hệ huyết thống. Dẫu là thân thích qua đời, cũng không đến mức bệnh thành như thế. Hơn nữa, theo mạch tượng, nàng ấy thường có chứng kinh sợ, ảo tưởng. Ta mới đoán nàng ấy hẳn còn điều gì nặng lòng.”

Trình ma ma thở dài:

“Cô nói không sai. Ngay cả lão thân cũng thấy kỳ quái. Phu nhân với nương nương vốn chỉ coi như tri giao, chưa đến mức máu mủ. Lúc phu nhân qua đời, không ngờ nương nương lại như mất hồn vía. Trong hàng thiếp thất, di nương xếp thứ năm, năm nay mới ba mươi ba, tuổi còn trẻ, nếu lão gia khỏe mạnh, cũng chẳng phải không còn hy vọng có con. Thế mà từ sau khi phu nhân tạ thế, nàng ấy chẳng còn màng đến chuyện lấy lòng lão gia, lại thỉnh thoảng nói ra lời hãi người…”

Khương Ly nghi hoặc:

“Lời hãi người thế nào? Nàng ấy nhập phủ được bao lâu?”

Trình ma ma như muốn nói lại thôi:

“Đã mười hai năm. Thuở đầu từng có mang, nhưng thai chẳng giữ được, còn để lại căn bệnh. Di nương vốn tính nhàn đạm, lại biết ca Nam khúc, nhờ vậy dẫu không con cái, vẫn có chỗ đứng trước lão gia. Còn về… những lời kia…”

Thấy bà lấp lửng, Khương Ly liền nói:

“Nếu bất tiện, ma ma không cần nói cũng được.”

Trình ma ma cười khổ, liếc nhanh về phía tiền viện, hạ giọng:

“Kỳ thật, nương nương là vì phu nhân mà không đáng. Phu nhân vốn là tiểu thư nhà tiết độ sứ, lão gia tuy cũng là danh môn, nhưng lúc ấy nhà họ Tần đã suy, ông mới đậu tiến sĩ, chỉ là ngũ phẩm quan ở Lại bộ. Phu nhân khi ấy đã có hôn ước, chỉ vì vị hôn phu bất ngờ qua đời, hôn sự tan vỡ. Sau đó biết bao công tử thế gia muốn cưới, ai ngờ cha phu nhân lại gả cho lão gia. Mà lão gia… cô cũng thấy rồi, chẳng hề chuyên tình. Bao năm nạp thiếp ngoài thiếp trong, phu nhân bề ngoài vinh hiển, nhưng kỳ thực ít khi được an vui.”

Khương Ly hỏi:

“Phu nhân vì bệnh gì mà mất?”

Trình ma ma than:

“Là lao bệnh. Về cuối, ngày nào cũng khạc máu. Ngay cả lão nô cũng kinh sợ chẳng dám gần, chỉ có nương nương, chẳng phụ tình giao, ở lại hầu hạ mấy hôm.”

Khương Ly hơi cảm động:

“Vậy thì quả nhiên nàng vì phu nhân mà sinh bệnh.”

Trình ma ma gật đầu:

“Chúng ta cũng chỉ có thể nghĩ như vậy.”

Vừa nói chuyện, đã tới nội viện. Khương Ly nhìn thoáng, thấy trong Trích Tinh Lâu còn sáng đèn, bèn hỏi:

“Trong lầu là ai?”

Trình ma ma đáp:

“Hẳn là Bùi đại nhân.”

Khương Ly hơi nhướn mày, vẫn đi theo vào Đình Lan viện.

Trong phòng, Minh Phương ngồi cạnh giường, đầu gật gù ngủ gà, còn Tô di nương tựa gối, ngơ ngẩn nhìn xa.

Trình ma ma mặt sầm xuống:

“Minh Phương! Con bé này lại ngủ gật! Học mãi nửa năm vẫn chưa xong—”

Nghe quát, Minh Phương giật mình tỉnh, vội co ro nép sang bên. Trình ma ma định mắng thêm, nhưng ngại Khương Ly có mặt, đành hừ một tiếng, rồi dịu giọng:

“Di nương, tiểu thư nhà họ Tiết tới.”

Tô di nương vội chỉnh người ngồi dậy hành lễ. Minh Phương thừa cơ lắp bắp:

“Nô tỳ… đi xem thuốc sắc xong chưa.”

Nói rồi chạy vụt ra ngoài. Trình ma ma hậm hực mắng nhỏ một câu.

Khương Ly ngồi xuống, bắt mạch. Bất giác hỏi:

“Con bé ấy mới đến nửa năm? Vậy nha hoàn trước đâu?”

Trình ma ma thở dài:

“Trước là Xuân Phương. Nhưng cuối tháng Sáu, bất hạnh chết rồi.”

Ngón tay Khương Ly đặt trên mạch tay Tô di nương, rõ ràng cảm thấy nàng run lên một cái.

Nàng ngẩng mắt nhìn đối phương, khẽ hỏi:

Dịch và biên tập bởi Rừng Truyện!!!

“Chết thế nào gọi là bất hạnh?”

Trình ma ma chậm rãi đáp:

“Ở phủ Sóc Bắc, Xuân Phương ngã xuống giếng mà chết.”

Khương Ly nhíu mày:

“Sao lại vô cớ rơi xuống giếng?”

Trình ma ma thở dài:

“Chúng ta cũng chẳng biết. Đêm ấy, không thấy nó về phòng ngủ, tìm khắp nơi không thấy. Sáng sớm hôm sau, mới phát hiện xác nó trong giếng sau viện. Bên giếng còn có chiếc thau gỗ nó thường dùng. Khi ấy nghĩ cuối hạ trời nóng, chắc nó nửa đêm ra múc nước lạnh, không may rơi xuống.”

Khương Ly đưa mắt nhìn Trình ma ma, rồi nhìn Tô di nương. Chỉ thấy sắc mặt nàng ta trắng bệch, cúi gằm, không nói lời nào.

Trình ma ma bất đắc dĩ nói tiếp:

“Xuân Phương hầu hạ di nương cũng năm sáu năm. Nó mất chưa đầy mấy ngày, phu nhân cũng đi theo. Di nương mắc bệnh, Xuân Phương chết cũng chiếm một phần nguyên do. Ai bảo di nương là người trọng tình…”

Người thân cận nối nhau qua đời, tất nhiên là đả kích lớn. Nhưng nhìn vẻ mặt Tô di nương, Khương Ly lại dấy lên ngờ vực. Nàng chẩn mạch xong, dặn:

“Hôm nay không cần châm cứu, nhưng phải đổi hai vị thuốc. Nếu di nương ưa hương liệu, có thể đốt trầm hương trong phòng cho tĩnh tâm.”

Tô di nương khẽ đáp “được”, Trình ma ma bèn lấy bút giấy, Khương Ly chép phương thuốc. Lúc viết xong, trời đã tối đen. Nàng lại dặn mấy câu, mới đứng dậy cáo từ:

“Ngày mai giao thừa, mùng một đầu năm ta không chắc tới được. Di nương cứ theo đơn mà uống, đừng quá phiền muộn.”

Trình ma ma liên tục vâng dạ, rồi bất ngờ quỳ xuống dập đầu:

“Ngày tết không dám làm phiền tiểu thư. Lão thân xin dập đầu tạ ơn trước.”

Khương Ly vội vàng đỡ bà dậy:

“Xin ma ma đừng như vậy, chỉ cần chăm sóc di nương thật tốt là được.”

Ra khỏi Đình Lan viện, nàng lại thấy trong Trích Tinh Lâu vẫn sáng đèn. Hoài Tịch thì thào:

“Có cần sang chào Bùi đại nhân không?”

Khương Ly lắc đầu:

“Chưa có tiến triển, không cần gặp thêm.”

Vừa dứt lời, từ đầu cầu đá vang lên tiếng quát mắng giận dữ:

“Đã về bao ngày rồi, mà cái chuồng chó còn chưa dựng xong?! Lũ vô dụng các ngươi làm được gì?! Mấy con bảo bối của ta chen chúc cả đám, các ngươi có biết chúng quý giá nhường nào không?!”

Giọng người nọ lại lạnh lẽo cười:

“Các ngươi, mắt đều dán vào tiền phải không? Cha ta mới vừa chết, các ngươi đã muốn lật trời rồi sao? Về sau, Tần thị này chưa chắc ai sẽ làm chủ đâu…”

Khương Ly nhíu mày, Trình ma ma vội thấp giọng:

“Cô nương, đó là nhị công tử. Hắn mang từ Sóc Bắc về bảy tám con chó săn, yêu quý vô cùng. Nhưng phủ Trường An không rộng như Sóc Bắc, bầy chó đều nhốt trong phòng hắn. Hắn đòi xây vườn chó ở hậu viện, nhưng cha hắn bận sửa Trích Tinh Lâu, rồi lại gặp chuyện, hạ nhân nào rảnh lo tới chó?!”

Hoài Tịch nghe xong rùng mình:

“Cả đàn chó nhốt trong phòng công tử sao?”

Trình ma ma gật:

“Đúng vậy. Nguyên có thể dùng chuồng ngựa, nhưng nhị công tử không nỡ. Ngươi không biết đó thôi, lũ chó ấy ăn uống còn hơn người. Mỗi ngày đều phải ăn thịt tươi hảo hạng, còn phải nấu nóng, có ba kẻ hầu chỉ lo chuyện bữa ăn cho chó. Công tử ở Sóc Bắc thích dắt chó đi săn, về Trường An thì chưa từng. Giờ thêm chuyện tang sự, bọn hạ nhân bên cạnh hắn đều sợ vỡ mật.”

Khương Ly nhớ đến Chương Bình, tiểu đồng bị tra tấn bằng vòng sắt, lòng lạnh buốt. Nàng bước lên cầu, từ xa thấy một công tử mặc hiếu phục, tay cầm roi, đang hung hăng đánh đập hai gia nhân.

Người ấy chính là Tần Trinh.

Hắn mày mắt sắc dài, vừa quất roi vừa quát:

“Cỏ dại khó dọn? Người thiếu nhân lực? Cho các ngươi thêm hai ngày, còn chưa xong, ta sẽ đem các ngươi cho chó ăn!”

Hai quản sự run rẩy dạ vâng.

Tần Trinh hừ lạnh, ném roi cho tiểu đồng cạnh bên, rồi ngẩng đầu bước nhanh về tiền viện:

“Hôm nay đến lượt ta thủ linh. Mau pha cho ta một ấm nhân sâm trà!”

Khương Ly nhìn bóng hắn khuất dần, lòng nhíu lại.

Trình ma ma cười gượng:

“Cô nương chớ chấp, nhị công tử vốn tính nóng nảy, động một chút là ra tay… ngay cả lão gia cũng chẳng quản nổi.”

Khương Ly thuận miệng hỏi:

“Hắn với lão gia quan hệ thế nào?”

Trình ma ma thật lòng đáp:

“Không tốt. Lão gia tuy thiên vị tam công tử, nhưng cũng nể trọng đại công tử, ít ra y biết buôn bán, có bạc trong tay, lại khéo léo xử sự. So ra, nhị công tử trên chẳng bằng, dưới cũng chẳng ra gì. Hắn muốn chia bớt sinh ý của đại công tử, lão gia không cho. Hắn muốn vào Kim Ngô Vệ, lão gia cũng cản, sợ hắn làm mất mặt.”

Điều này trùng khớp với lời Bùi Yến kể. Nhưng dẫu cha con bất hòa, cũng chưa đủ thành lý do giết cha. Khương Ly lắc đầu, rời phủ lên xe ngựa.



Khi trở về Doanh Nguyệt Lâu, đã quá nửa giờ Dậu. Trời đêm mịt mù, nhưng do Tết đã cận kề, cả phủ Tiết treo đèn rực rỡ, tràn đầy không khí đoàn viên.

Khương Ly ngồi bên cửa sổ tầng hai, nhìn ra ánh đèn, lòng thoáng mơ hồ.

Tuy khuya, nàng vẫn lôi y thư ra tra cứu. Bộ dược điển mang theo không đủ, nàng vốn chẳng mong nhiều, chỉ cố tìm manh mối.

Hoài Tịch pha trà bầu bạn. Khương Ly đọc say mê, còn nàng mệt mỏi gà gật.

Đang lim dim, bỗng nghe một tiếng “bốp” khẽ vang. Hoài Tịch giật mình ngẩng dậy, thấy Khương Ly tinh thần sáng rực, tay vừa đập bàn gỗ.

“Cô nương, nghĩ ra rồi ư?!”

Khương Ly đôi mắt lấp lánh:

“Nếu ta đoán không nhầm—đó là Quán chúng!”

Hoài Tịch chau mày thật sâu: “Quán chúng? Là nô tỳ trí nhớ kém sao, sao lại không nghĩ ra vật ấy là gì?”

Khương Ly nói dồn dập:

“Quán chúng là một loại dương xỉ có vảy, rễ và cuống lá đều có thể dùng làm thuốc, có công hiệu thanh nhiệt giải độc, lương huyết chỉ huyết. Nó được dùng để trị phong nhiệt thương hàn, ôn nhiệt ban chẩn, còn có thể trị các chứng thổ huyết, khái huyết, nục huyết, tiện huyết. Nhưng vật này cũng có độc tính, có thể dùng để sát trùng. Bùi Yến trong địa y của Phật đường đã phát hiện thiêu y nga chết, e rằng chính là do thứ thuốc này. Ngoài ra, dược này còn có thể luyện thành than—”

Hoài Tịch kinh hãi:

“Luyện than?”

Khương Ly gật đầu:

“Lấy lát Quán chúng sạch cho vào nồi, không thêm phụ liệu, rang đến khi đen như than rồi phun nước nguội. Thứ Quán chúng than này vốn có thể nhập dược, nhưng vô luận dùng thế nào đều phải chú ý liều lượng. Chỉ cần quá mức, tất sẽ khiến người ta hoa mắt chóng mặt, thậm chí nôn mửa, tả lỵ. Mà Quán chúng than thoạt nhìn không khác gì mảnh than thường, chỉ khi bẻ ra mới thấy lõi nâu đỏ bên trong. Vì thế, nếu hung thủ đem Quán chúng than lẫn vào ngân ti than bỏ vào hỏa lô đốt, chỉ cần số lượng đủ nhiều, ắt có thể hạ độc.”

Hoài Tịch cũng hăng hái:

“Đúng! Hạ độc! Hung thủ chính là muốn hạ độc! Nếu vị Tần đại nhân kia mê man mà chết, tất nhiên chẳng thể kêu cứu, đây chính là dụng ý của hắn! Cô nương thật lợi hại, quả nhiên bị cô nương nhìn ra—”

Khương Ly khép y điển:

“Trong y điển này vốn không có ghi chép Quán chúng, ta chỉ thấy bên trong có ghi cách dùng Thương truật than, liền nghĩ đến số ít dược liệu có thể luyện than, trong đó có một vị chính là Quán chúng.”

Rốt cuộc xác định được dị vật, Khương Ly cũng thở phào. Thấy canh giờ đã tới tứ canh, nàng duỗi lưng, nói:

“Được rồi, nghỉ ngơi thôi, ngày mai đem kết quả báo đến Tần phủ là được.”



Sáng hôm sau, đúng tiết trừ tịch, trong phủ gia nhân bận rộn không kịp nghỉ chân, vừa phải trang hoàng khắp nơi náo nhiệt hân hoan, vừa chuẩn bị tế bái tông từ buổi chiều và yến niên đêm đến.

Khương Ly sau khi tẩy trần thay y phục, liền sai Trường Cung chạy đến Tần phủ một chuyến, còn mình theo lệ đến chính viện vấn an Tiết Kỳ.

Đến chính viện, Tiết Kỳ chưa tới, Tiết Thái đang dẫn mấy tiểu tư bận rộn lắp bấc cho hai chiếc đại hồng đăng trước cửa sảnh. Đèn lồng cực lớn, một tiểu tư phải trèo thang lên mái hiên, một tiểu tư khác dưới đất giữ đèn. Nhưng đèn lồng sâu, miệng lại hẹp, dưới thì khó với, trên cũng không tiện, chỉ thấy tiểu tư trên cao vất vả rót dầu vào. Không ngờ đúng lúc ấy, tiểu tư dưới đất bỗng kêu “ai da” một tiếng đau đớn.

Khương Ly giật mình nhìn kỹ, thì thấy một đoạn nan tre bén nhọn còn sót trong đèn lồng rơi xuống, trúng ngay mắt tiểu tư.

Tiểu tư ôm mắt kêu đau, Tiết Thái vội chạy đến xem, thấy chỉ đỏ khóe mắt mới thở phào, rồi nhìn mảnh nan tre bén mà còn run:

“Không sao, may mà không phải đầu nhọn chọc xuống, nghỉ chút là khỏi.”

Khương Ly vốn muốn lại gần xem, nhưng chưa bước đến đã nghe câu ấy, liền sững lại, đôi mày cau chặt, ánh mắt gắt gao nhìn đèn lồng đỏ. Một thoáng sau, nàng bất ngờ quay phắt, trầm giọng:

“Đi, đến Tần phủ!”

Đúng lúc Tiết Kỳ từ nội viện bước ra, chỉ kịp gọi lớn:

“Linh nhi, con muốn đi đâu—”

Trường Cung còn chưa về, Khương Ly lập tức sai môn phu khác đánh xe, thẳng hướng Tần phủ mà đi. Hoài Tịch thấy nàng thần sắc nghiêm nghị, trong mắt còn ẩn hiện tia sáng âm u, nhịn không được hỏi:

“Cô nương, người phát hiện ra điều gì rồi?”

Khương Ly đáp chắc nịch:

“Ta đã biết hung thủ giết người thế nào rồi! Nhưng vẫn còn vài chỗ chưa thông suốt…”

Hoài Tịch chẳng hiểu gì, chỉ thấy nàng trầm tư không dám quấy rầy. Xe ngựa chưa tới Tần phủ, Khương Ly đã nhảy xuống, vừa vào cửa liền thẳng tới hướng Trích Tinh lâu:

“Bùi đại nhân có ở đó không?”

Gia nhân Tần phủ đã quen mặt nàng, vừa dẫn đường vừa đáp:

“Có có, vừa tới chưa bao lâu.”

Khương Ly bước gấp như bay, vào đến nội viện, thấy Bùi Yến cùng Cửu Tư và mấy người khác đang từ Trích Tinh lâu đi ra, Trường Cung cũng theo sau. Nàng vội gọi lớn:

“Bùi thiếu khanh—”

Bùi Yến không ngờ nàng xuất hiện lúc này:

“Trường Cung đã mang tin đến, sao cô nương còn tới?”

Khương Ly thở dốc chạy tới:

“Ta đã biết hung thủ hạ thủ thế nào rồi!”

Bùi Yến ngạc nhiên:

“Cô tra ra than dược có độc, ta cũng đã đoán được. Hơn nữa, trong khố phòng Tần phủ quả có vị thuốc này, năm ngày trước còn có người lấy ra—”

Khương Ly vội hỏi:

“Là ai?”

“Là Tần Trinh—”

Một lời rơi xuống, Khương Ly sững lại:

“Sao lại là hắn? Hắn đâu có động cơ đủ mạnh…”

Bùi Yến nói:

protected text

Khương Ly còn muốn nói cùng đi, ánh mắt chợt chuyển ra sau lưng Bùi Yến. Bùi Yến quay đầu, thấy Tần Minh mặt mày hoảng loạn như gặp quỷ, vội chạy đến, kêu thất thanh:

“Bùi đại nhân! Nhị công tử xảy ra chuyện rồi!”

Bùi Yến biến sắc:

“Chuyện gì?”

Tần Minh run rẩy, còn chưa tới nơi đã ngã lăn ra đất, vừa khan giọng vừa nôn khan:

“Nhị… Nhị công tử bị bảy tám con chó săn cắn chết rồi! Những con chó còn xé thịt, tứ chi lộ xương, ngay cả mặt cũng bị cắn nát…”