Trong phòng tối mịt không một tia sáng lọt vào, chỉ còn lại thoang thoảng mùi tĩnh thủy hương trên cơ thể người đối diện. Châu Đàn chẳng rõ từ đâu đã tìm được bút, nghiên mực và giấy, đặt mấy phong thư của Lưu Liên Hề lên trên án.
Chàng dường như có thể phân biệt thứ tự trước sau của các bức thư ấy, sau đó liền cầm bút chấm mực, khoanh tròn hai chữ đầu tiên: “Công Thâu”.
“Nàng có biết họ này không?” Châu Đàn hỏi.
“Đương nhiên!” Khúc Du đáp lời: “Gia tộc Công Thâu lập nên từ thời Xuân Thu, có thủy tổ Công Thâu Ban chế tạo thang mây cho nước Sở, là bậc thợ khéo léo hiếm có trong thiên hạ. Người đời ca tụng rằng họ có thể khiến đồng xanh cũng phải cất lời.”*
*Hàm ý tay nghề siêu phàm, tinh xảo đến mức độ làm cho vật vô hồn trở nên sống động.
“Không sai.” Châu Đàn cầm bút khoanh thêm chữ ‘Vô Chuyên’, ‘thợ mộc Vô Chuyên’ mà thư đề cập, chính là hậu duệ của gia tộc Công Thâu, cũng là thợ mộc lừng danh ở Đại Dận, từng được hoàng gia trọng dụng. Không ít công trình nổi tiếng tại Biện Đô này đều xuất phát từ tay ông.”
Châu Đàn vừa nhắc nhở, Khúc Du cuối cùng cũng nhớ ra cái tên có phần quen thuộc này. Nàng chỉ xem qua lịch sử đại cương, không nghiên cứu sâu như luật pháp hình sự, song cái tên Công Thâu Vô Chuyên lại nổi bật trong sử sách nghệ thuật của Đại Dận, chỉ cần để tâm nhớ lại ắt sẽ có ấn tượng.
Ông là một kiến trúc gia nổi tiếng đương thời. Chẳng cần luận đâu xa xôi, cái chùa Tụ Thanh trên núi Đình Sơn mà Doãn Tương Như và Cao Vân Nguyệt đã nhắc đến với nàng nhiều lần chính là công trình do Công Thâu Vô Chuyên phụng chỉ xây dựng khi còn giữ chức trong cung cấm, trải qua trăm thế kỷ mà vẫn sừng sững. Khi Khúc Du học cao học năm nhất, nàng còn từng đến xem di tích tháp Thiên Môn bên ngoài chùa Tụ Thanh.
Kiến trúc trong hoàng thành của Đại Dận cũng phần lớn do một tay ông tạo nên. Tuy nhiên, Công Thâu Vô Chuyên dường như đã từ quan quy ẩn ngay khi còn tráng niên. Đến cả cung điện cuối cùng ông chủ trì xây dựng cũng chẳng bao lâu sau đã bị phá bỏ. Kể từ khi rời Biện Đô, ông mai danh ẩn tích. Gia tộc Công Thâu cũng từ đó mà suy bại, sử sách ghi chép rằng ông là tiếng tuyệt xướng cuối cùng của gia tộc Công Thâu.
Nội dung trong thư lại có liên quan đến vị nghệ nhân tài ba này ư?
Khúc Du vẫn còn nhớ rõ, lúc nàng mới vượt thời không đến đây, ngoài sự tò mò về cung cấm nội đình, nàng còn muốn khám phá đất đai, phong cảnh, con người của Đại Dận. Trong đó, có một tâm nguyện là được diện kiến các bậc nghệ nhân đương thời. Chẳng ngờ chỉ trong thời gian ngắn ngủi, nàng đã được gặp gỡ đại thi nhân lưu danh thiên cổ, nay lại còn dính líu đến vị kiến trúc sư danh chấn sử sách này.
Chẳng cần nói đâu xa, Châu Đàn giờ đây đang ở ngay trước mắt nàng… Cảnh ngộ của con người, quả thật luôn kỳ diệu.
Khúc Du cúi đầu xem xét, chỉ vào cái tên trên một bức thư khác rồi hỏi: “Vậy thì Công Thâu Đoán trong thư này có quan hệ gì với Vô Chuyên tiên sinh, hắn có phải hậu nhân của người đó chăng?”
“Đây là con trai của Vô Chuyên tiên sinh. Gia tộc Công Thâu cư ngụ lâu đời ở Tây Cảnh, tổ quán tại Nhược Châu, nơi Bành Việt từng ở.” Châu Đàn tạm thời đặt bút xuống, chỉ vào một hình vẽ mờ nhạt, méo mó mà Lưu Liên Hề vẽ lại theo trí nhớ, nói: “Lưu cô nương nhớ không được chính xác, nhưng hình dạng vẫn còn. Đây là công ấn của trạm dịch đóng trên thư tín khi Nhược Châu thành trao đổi thư từ với Biện Đô. Những bức thư này đều là do người ở Biện Đô gửi cho con trai của Vô Chuyên tiên sinh đang ở Nhược Châu.”
“À!” Nghe chàng giải thích, Khúc Du chợt hiểu ra nhiều điều. “Vậy cái gọi là ‘biết bí mật cái chết của phụ thân con’ và ‘được ta cứu’ là đang chỉ Vô Chuyên tiên sinh? Việc tu sửa Chân Như điện… Những điều này, rốt cuộc có can hệ gì đến chàng?”
“Chân Như Cung là một điện cũ trong hoàng thành, cũng là công trình cuối cùng của Vô Chuyên tiên sinh.” Châu Đàn không trả lời thẳng mà chỉ lạnh nhạt nói: “Đáng tiếc, nay đã không còn nữa.”
“Điện ở trong cung, vì sao lại không còn nữa?”
“Chân Như Cung đã bị phá bỏ, nàng có biết sau khi cung điện này sụp đổ, người ta đã xây dựng gì trên nền đất cũ không?”
Khúc Du nghi hoặc: “Là gì?”
Lời vừa dứt, nàng bỗng nhiên sững người. Châu Đàn cười bất đắc dĩ một tiếng. Nàng kinh ngạc nhìn lại trang giấy, cảm thấy giọng mình có phần run rẩy: “Là… Nhiên Chúc Lâu?”
Ánh nến khẽ lay động, Châu Đàn cụp mắt gật đầu.
“Chân Như Cung ban đầu vốn là cung điện của Triệu quý phi tiền triều. Trước khi qua đời, Triệu quý phi đã được gia phong thành Thuận Đức hoàng hậu và dọn ra khỏi Chân Như Cung, chỉ vì chê nơi này sát Đông Môn ồn ào. Sau khi bà dọn đi, Chân Như Cung bị bỏ trống, mãi đến khi đổ nát, không còn ai vào ở nữa.”
“Thuận Đức hoàng hậu chẳng phải là sinh mẫu của Đức Đế bệ hạ hiện nay sao?”
“Đúng vậy.”
Thuận Đức hoàng hậu họ Triệu là Quý phi của Tuyên Đế. Phụ thân của bà là Triệu Ân, một quyền thần lừng danh tiền triều. Khi Đức Đế lên ngôi, toàn bộ đều phải nhờ vào vị ngoại tổ phụ này và Cố Chi Ngôn để thanh trừng triều chính. Sau này, Thuận Đức hoàng hậu và Triệu Ân lần lượt qua đời vì bệnh, chỉ còn Cố Chi Ngôn sau khi nhậm chức Tể phụ tiếp tục phò tá Đức Đế nhiều năm.
“Kẻ này viết thư cho Công Thâu Đoán, mời hắn đến Biện Đô, nói rằng Vô Chuyên tiên sinh được hắn ta cứu, sau đó bỏ mạng, hắn ta còn giữ sổ tay để gửi lại.” Khúc Du cúi đầu quan sát. “Xem bản phác thảo của Đoán… Chẳng lẽ là bản vẽ của Chân Như Cung? Vô Chuyên tiên sinh chủ trì việc tu sửa Chân Như Cung vốn là việc trong bổn phận, sao lại rước họa vào thân?”
“Nhược Châu…”
Châu Đàn đặt hai tay lên án, vai và cổ không ngừng run rẩy. Khúc Du cảm nhận được chàng đang cực lực kiềm chế giọng mình: “Bành Việt bất ngờ qua đời trên núi Kinh Hoa, thực ra không hề trong sạch. Nếu có người truy cứu, ắt sẽ thấy điều khuất tất. Phó Khánh Niên còn tranh được lệnh lưu đày cho hắn, nhưng khi hắn chết rồi lại không còn bận tâm. Ta gặp ông ta, ông ta bảo người này chỉ là quân cờ vô dụng, nhưng nếu là quân cờ vô dụng, cớ sao lúc trước lại phải tốn công mà giữ lại mạng?”
Khúc Du vỗ nhẹ vào lưng chàng: “Trước khi Bành Việt chết, chàng còn hỏi hắn có vật gì trong tay, hẳn vật ấy chính là chứng cứ khiến Phó Khánh Niên phải giữ mạng cho hắn? Hắn còn sống, đó là chứng cứ, Phó Khánh Niên vì kiêng dè mà buộc phải bảo vệ. Hắn chết rồi, chứng cứ này bị chôn vùi, có lẽ Phó Khánh Niên còn vui mừng hơn nên mới không truy cứu… Chắc chắn là như vậy.”
Nàng nói xong câu này lại nhắm mắt, nhíu mày hồi tưởng: “Trong thư của Liên Hề cũng nói phụ tử Đỗ gia say rượu nói năng hồ đồ, khoe khoang rằng trong tay nắm giữ điểm yếu của Tể phụ. Vậy thì những bức thư mà nàng ấy cố công tìm được này, kẻ viết thư hẳn chính là Tể phụ!”
“Ha ha ha ha…” Châu Đàn nắm tay đấm xuống án, cười lạnh lẽo đầy chế giễu. “Phó Khánh Niên… Ta lẽ ra phải nghĩ đến sớm hơn…”
Chàng đứng dậy, cầm nến đi đến trước kệ đồ cổ, di chuyển một bình hoa tương đối sạch sẽ trên đó. Khúc Du nghe thấy tiếng cơ quan chuyển động, sau đó bức tường trong mật thất lõm vào, lộ ra một chiếc hộp gấm màu vàng tươi.
Nàng ý thức được điều gì, bước theo đối phương đến trước kệ sách rồi bỗng nhiên cảnh giác, hỏi: “Mật thất này của chàng, nếu có người vào phủ, đứng trước kệ sách, liệu có thể nghe thấy tiếng động bên trong không?”
Châu Đàn lắc đầu: “Phủ này tuy là bệ hạ ban thưởng, nhưng năm đó để trống rất lâu, vốn là lão sư định để cho ta cư ngụ khi từ địa phương nhậm chức trở về. Vì thế lão sư đã sai người tu sửa lại để dự phòng lúc bất trắc. Các khe hở trong phòng này đều được đổ đồng lấp kín, lỗ thông gió chôn rất sâu, tường được gia cố cẩn mật. Ngay cả khi có người áp sát vào khe kệ sách cũng sẽ không nghe thấy bất cứ tiếng động nào.”
Chàng đưa tay lấy chiếc hộp gấm màu vàng tươi ra, trân trọng ôm trong tay rồi quay đầu nhìn nàng.
Khúc Du đột nhiên cảm thấy Châu Đàn trao cho nàng dường như không phải một món đồ, mà là cả tính mạng của chàng. Giống như điều Châu Đàn vừa run giọng hỏi nàng rằng việc này một khi nàng đã biết thì không chỉ nàng bị kéo vào vòng xoáy chính trị đầy sóng gió này, mà đối phương cũng đã buộc chặt mọi thứ của mình vào nàng.
Khúc Du thấy chàng đưa tay mở chiếc hộp gấm. Trong hộp là một cuộn lụa màu vàng nhạt được buộc bằng dải lụa, vô cùng quý giá.
“Đây là…”
“Di chiếu.”
Châu Đàn trầm giọng đáp.
Sáu tháng sau khi Lệ Vương tiếm quyền, Châu Đàn hộ tống Cảnh Vương Tôn vào hoàng đình, tại triều đường lấy ra di chiếu của Tuyên Đế, bảo đảm cho cậu danh chính ngôn thuận lên ngôi.
Các sử học tranh cãi không ngớt về hành động này. Châu Đàn sau khi tiến hành biến pháp Tước Hoa thì mang tiếng xấu đầy mình, nhưng trước khi chàng nhậm chức Tể phụ thì lời khen tiếng chê cũng khá lẫn lộn.
Việc chàng được đứng đầu trong Nịnh Thần Truyện là do khi người xưa tu sửa Dận sử đã nghi ngờ về di chiếu này, gán cho chàng tội mưu nghịch, đứng đầu mười tội ác lớn.
Mối nghi ngờ đã làm khó hậu thế hàng ngàn năm, giờ đây lại được chàng lấy ra, bày trước mắt nàng.
Khúc Du kinh hãi trong lòng, không tự chủ mà lùi lại một bước. Châu Đàn đã có thể lấy ra di chiếu ngay lúc này, vậy thì di chiếu này chắc chắn không phải do chàng giả mạo để phò tá Cảnh Vương Tôn lên ngôi sau này.
Năm xưa Tuyên Đế quả thực đã để lại di chiếu rằng: “Đức Đế bất kính, nhường ngôi cho hậu duệ của Cảnh Vương!”
“Di chiếu này… sao lại ở trong tay chàng?” Khúc Du cất tiếng, suýt nữa cắn vào lưỡi mình. “Là Cố tướng để lại sao?”
Lông mi của Châu Đàn dưới ánh nến phủ một lớp sáng vàng nhạt. Mỗi lần chàng cụp mắt đều để lộ hàng mi suôn dài và đẹp đẽ. Khi run rẩy nhẹ, trông tựa như râu bướm khẽ lay trong gió: “Trước khi lão sư rời kinh đã dặn ta đêm khuya lấy vật này từ sau biển hiệu thư trai tại phủ đệ cũ của lão sư rồi cẩn thận cất giữ. Sau này ta ngẫm đi ngẫm lại… phải chăng lúc đó lão sư đã có tâm niệm sẵn sàng chết? Nếu không, sao lão sư lại giao một vật hệ trọng như vậy cho ta?”
Chàng khẽ nhắm mắt lại, gương mặt đầy vẻ thống khổ: “Ta từng nghĩ, đợi lão sư về Dương Châu, cuối năm rảnh rỗi sẽ đến bái kiến lão sư rồi hỏi cho ra ngọn nguồn. Nhưng lão sư… còn chưa kịp đi qua sông Thanh Khê ngoài Biện Đô. Y phục cũ vẫn còn lưu lại trong phủ của ta, trong linh cữu chỉ có một chiếc vạn ô tán của dân chúng kính tặng. Ta muốn đến tiễn đưa, nhưng họ không cho ta vào cửa. Bệ hạ vẫn luôn dõi theo, ta không dám thất thố, cũng không thể đến trước bia mộ mà cúng viếng. Thế nên ta đành phải quỳ trọn một đêm nơi đây, ta tuyệt nhiên vẫn không thể hiểu vì sao lão sư lại bỏ ta mà đi.”
Khúc Du đỡ lấy chiếc hộp gấm trong tay chàng, đóng nắp hộp lại, đặt về chỗ trũng sâu kia. Nàng quay đầu kéo Châu Đàn ngồi xuống. Nàng không nói một lời nào, chỉ nắm chặt đôi tay chàng. Không biết có phải nhờ nàng nắm tay chàng thật chặt hay không, bàn tay thon dài, đẹp đẽ ấy cuối cùng cũng dần trở nên ấm áp hơn.
Nàng chợt hiểu ra một điều.
Châu Đàn bị phe thanh liêm khinh miệt, gánh chịu vô số lời mắng chửi, không phải vì chàng phản bội sư môn, nhặt lại mạng sống từ chiếu ngục mà là vì Cố Chi Ngôn đã chết.
Nếu Cố Chi Ngôn còn sống, Châu Đàn cầu xin sống sót từ tay Tống Sưởng vẫn có thể nói là Cố tướng thương học trò, bên ngoài xưng là tuyệt giao nhưng kỳ thực là để giữ lại mạng sống cho chàng.
Nhưng ông lại không để lại một lời nào mà noi gương Khuất Tử gieo mình xuống sông. Trong mắt thế nhân, ấy chính là Cố tướng đã nhận định học trò bất hiếu.
Cho nên vạn niệm đều tan biến, không kham nổi thế gian vẩn đục, tuyệt không còn lưu luyến.
“Ta từng nghĩ… lão sư làm vậy là trừng phạt ta vì chuyện cũ.” Châu Đàn siết căng giọng, chàng dùng sức nắm ngược lại tay nàng, dường như tha thiết muốn níu giữ chút sức mạnh để chống đỡ. “Xem những thứ này, ta mới chợt nhận ra…”
Chàng nói mơ hồ, lấp lửng, Khúc Du không rõ chuyện cũ trong lời chàng là gì, cũng không mở lời hỏi. Nàng nhẫn nại lắng nghe, nếu Châu Đàn muốn nói, chàng tự khắc sẽ nói với nàng.
Trong câu chữ của chàng là nỗi bi thương trĩu nặng. Khúc Du nhớ lại trong màn mưa u ám trên núi Kinh Hoa năm nào, người trước mặt này đã từng cố sức đẩy vòng tay duy nhất có thể dựa vào ra trong khi sốt mê man. Đôi đồng tử màu hổ phách lộ rõ vẻ tự ghét bỏ đầy sắc lạnh.
Thì ra trong thâm tâm chàng, ngay cả người chàng kính trọng nhất cũng đã dùng cái chết để rời bỏ chàng. Chàng làm việc ở Hình bộ một cách mơ hồ, phá hoại danh tiếng như thể tự hủy hoại mình, từ chối sự quan tâm của những người thân cận, hẳn cũng là một cách tự trừng phạt.
Giờ đây, chàng cuối cùng đã có chút dũng khí để nắm lấy đôi tay nàng. Đôi mắt chàng ngấn lệ chưa rơi, nhưng lại bùng lên niềm hy vọng, hệt như người đang trong tăm tối vừa cầu xin được một nhúm lửa cuối cùng trên thế gian.
“Ta chợt nhận ra, là ta đã nghĩ sai rồi sao. Lão sư… thật sự là tự vẫn sao?”