Thủ Khoa Nhà Nông

Chương 6



Trong phòng thi tôi kiểm tra lại rất nhiều lần, không dám để sót một chữ nào.

Thi xong, mẹ không hỏi tôi làm được bao nhiêu điểm.

Mẹ chỉ dắt tôi đi công viên, mua cho tôi một cây kẹo bông thật lớn.

Kẹo bông ngọt lịm.

Điện thoại báo trúng tuyển gọi đến nhà cô hàng xóm.

Cô vừa chạy đi gọi mẹ vừa hét toáng lên cho cả làng nghe.

“Ghê thật, con bé nhà họ Triệu đúng là có năng khiếu học hành.”

“Chỉ tiếc là con gái.”

Mẹ tôi dạo này mạnh mẽ hơn trước rất nhiều.

Vừa nghe câu đó liền đáp ngay:

“Con gái thì sao?

Mẹ mấy người chẳng phải cũng là phụ nữ à?”

Làm mấy người kia tức nghẹn, trợn trắng cả mắt.

Trường cấp Hai ở thành phố rất tốt, nhưng học phí đắt, chi phí sinh hoạt cũng cao, với mấy con gà con lợn trong nhà thì căn bản không đủ để nuôi tôi đi học.

Mẹ suy nghĩ rất lâu, bán hết gà lợn trong nhà, mang toàn bộ tiền tiết kiệm đưa tôi cùng lên thành phố.

Mẹ thuê một căn phòng nhỏ chỉ hơn mười mét vuông gần trường, mua một chiếc xe ba bánh cũ và một đống xoong nồi bát đũa, bắt đầu mở quầy bán món cay tê xiên que.

Lúc này tôi mới biết, khi tôi đang dốc sức viết bài trong phòng thi, thì ở ngoài mẹ cũng không ngồi yên, vừa trò chuyện với mấy người bán hàng rong, vừa tính toán xem có thể làm gì để buôn bán.

Cuộc sống ở thành phố đắt đỏ kinh khủng, nước phải trả tiền, lửa bếp cũng phải tính tiền.

Mỗi ngày mẹ dậy từ bốn giờ sáng, đi chợ nông sản cách mười cây số, tranh mua rau tươi ngon rẻ nhất, rồi về nhà nhặt rau, rửa sạch, xiên từng que tre.

Đến trưa thì ra mở quầy bán hàng, mãi đến tối mới về nhà.

Tôi muốn phụ giúp, mẹ lại làm cho tôi một thẻ mượn sách ở thư viện.

“Bảo Nhi, mẹ nghe nói ở đây sách đọc miễn phí, không tốn tiền. Con từ nhỏ đã thích đọc sách, rảnh thì cứ đến đó đọc nhiều vào.”

“Nhưng mà…”

Tôi định nói, nhưng nhìn mẹ vất vả quá, mẹ vỗ nhẹ tôi: “Việc con cần làm bây giờ là học thật giỏi, chuyện kiếm tiền không cần con lo.”

Thế là mỗi ngày tôi mang theo bình nước và một cái bánh bao, ở thư viện từ mở cửa đến khi đóng cửa.

Sách ở thư viện đọc thoải mái, miễn phí, còn có nước uống nữa.

Mùa hè đó, số sách tôi đọc còn nhiều hơn sáu năm qua cộng lại.

Quầy hàng nhỏ của mẹ bán rất chạy, mẹ thật thà, không như mấy người bán món cay tê khác, vừa không rửa rau, nồi niêu chén bát luôn sáng bóng, nhìn thôi đã thấy sạch sẽ.

Tháng đầu tiên, mẹ kiếm được ba ngàn năm trăm tệ, còn nhiều hơn thu nhập cả năm của chúng tôi ở làng.

Mẹ đếm đi đếm lại, vừa lau nước mắt vừa nói đã đủ tiền đóng học phí rồi, mẹ con mình sống ở thành phố được rồi.

Trước khi nhập học, mẹ mua cho tôi đôi giày trắng và chiếc cặp sách mới.

Mẹ nói, thấy con gái thành phố ai cũng đi giày trắng, nếu không có sẽ bị bạn học coi thường.

Quả nhiên lớp tôi nhiều bạn nữ đi giày trắng, nhưng giày của các bạn đều cao cấp, mua ở cửa hàng chính hãng, một đôi còn đắt hơn cả chi phí sinh hoạt một tháng của hai mẹ con.

Ngày đầu đi học, bạn cùng bàn dùng chiếc giày trắng của cô ấy đá nhẹ vào giày tôi.

“Triệu Bảo Nhi, giày cậu hình như hàng nhái đó.”

Tôi cúi đầu nhìn đôi giày, mơ hồ: “Hàng nhái là gì?”

Bạn cùng bàn trợn mắt “á” một tiếng, rồi hỏi: “Cậu không biết Nike à?”

Tôi lắc đầu. Quả thật tôi không biết.

Các bạn xung quanh liền xúm lại, mỗi người một câu hỏi, rốt cuộc tôi chui từ xó xỉnh nào ra mà cái gì cũng không biết. Ánh mắt họ không ác ý, chỉ là không hiểu tại sao lại có người không biết những “kiến thức phổ thông” như vậy.

Tôi kể về việc thi đỗ lên thành phố, về gà với lợn nhà tôi, còn kể rằng vì tôi là con gái nên bà nội không cho đi học.

Cuối cùng tôi nói: “Cắt cỏ cho lợn, nuôi gà nuôi heo, cày cấy vụ xuân vụ thu… mới chính là ‘kiến thức phổ thông’ của tôi.”