Thập Niên 70: Ta Ở Nhân Gian Tích Công Đức P2

Chương 37:



 

Trương Huyền Thanh vừa mừng vừa kinh ngạc: “Cái gì, Đại cô nương dạy con bí quyết tu đạo vẽ bùa rồi sao?”

 

“Dạy rồi ạ.”

 

Trương Huyền Thanh vô cùng muốn hỏi xem Đại cô nương đã dạy thế nào, nhưng nghĩ lại đó là bản lĩnh gia truyền của người ta, mình là người ngoài không tiện hỏi thăm, lời đến khóe miệng đành phải nuốt xuống.

 

Haiz, vì tiền đồ của đồ tôn nhỏ, ông quyết định không hỏi nữa.

 

Trương Huyền Thanh ánh mắt đầy mong đợi, vỗ vỗ vai cậu bé: “Nghe lời Đại cô nương, ráng luyện tập cho tốt. Đợi con luyện thành tài, sư gia sẽ chuẩn bị đại điển bái sư cho con.”

 

“Vâng ạ.”

 

Trương Huyền Thanh ôm đến một chiếc bồ đoàn, Trương Tiết nhỏ bé ngồi khoanh chân trên bồ đoàn, ngẩn ngơ nhìn Chuông Trấn Hồn.

 

Ngẩn người một lúc, cậu bé đứng dậy, dùng trán húc vào Chuông Trấn Hồn vài cái, nhưng hoàn toàn không tìm lại được cảm giác bị Đại cô nương túm lấy sợi dây kéo bổng hồn phách lên như vừa nãy.

 

Trương Tiết lùi lại hai bước, lại ngồi xuống bồ đoàn, suy nghĩ, ngẩn ngơ, nhắm mắt lắng nghe tiếng gió thổi qua. Nghe kỹ hơn, có tiếng lá cây xào xạc bay lượn trong gió, tiếng cỏ ranh đong đưa sột soạt... Cậu bé còn ngửi thấy rất nhiều mùi vị lẫn trong gió, mùi của cỏ cây, mùi hoa dại, và cả mùi nhang khói trong đạo quán…

 

Trương Tiết cảm thấy mình giống như một hòn đá trên núi, mọi thứ trên thế giới này đều sống động, chỉ có mình cậu là ngốc nghếch không được khai sáng. Một lát sau, cậu lại thấy mình như một ngọn cỏ đong đưa trong gió, rồi lại thấy mình như một cụm bông gòn bung nở, được ánh mặt trời ôm ấp.

 

Trương Huyền Thanh nấu xong bữa trưa, bước ra gọi đồ tôn vào ăn cơm. Thấy cậu bé nằm úp sấp trên bồ đoàn không nhúc nhích, ông vội lạch bạch chạy tới bế cậu lên: “Cái thằng bé này, sao lại ngủ gật rồi? Ngủ ngoài gió thế này dễ cảm lạnh lắm đấy.”

 

Trương Tiết giụi giụi mắt mở ra: “Sư gia, con mơ thấy mình là một đám mây, bay cao ơi là cao.”

 

Trương Huyền Thanh bật cười: “Điển tịch Đạo môn có câu mây là thang lên trời, cái thằng nhóc con nhà con còn chưa nhập đạo mà đã mơ thấy mình vũ hóa phi thăng rồi sao?”

 

Trương Tiết toét miệng cười, cậu bé cảm thấy mình vừa có một giấc mơ rất đẹp.

 

Chúc Thập An nán lại Đạo quán Vân Đài hai ngày, chiều hôm thứ hai thì xuống núi về nhà. Lúc cô đi, cậu nhóc Trương Tiết kia vẫn đang dùng đầu húc vào chuông.

 

Tiểu Bạch theo Chúc Thập An xuống núi, lên tiếng hỏi: “Tự mình ngộ đạo khó lắm, sao cô không trực tiếp dẫn dắt thằng bé nhập đạo luôn? Như vậy chẳng phải đơn giản hơn sao?”

 

“Dựa vào người khác dẫn dắt sao có thể tốt bằng tự mình ngộ ra?”

 

“Nhưng mà dễ hơn mà. Giống như tôi ngày trước ấy, tiền bối nhà họ Liễu phát hiện tôi có thiên phú tu đạo, liền dạy tôi cách xuất hồn hiển linh, tôi học được nhanh lắm.”

 

Chúc Thập An bừng tỉnh ngộ: “Hóa ra là vậy, ngươi ngay từ đầu đã đi đường tắt, đúng là đốt cháy giai đoạn mà.”

 

Tiểu Bạch vội hỏi: “Chủ nhân nói vậy là có ý gì?”

 

Chúc Thập An cười đáp: “Cũng tốt thôi. Với cái thiên phú và cái nết lười biếng của ngươi, nếu không có vị tiền bối họ Liễu kia kéo một cái, e rằng chưa đợi được đến ngày tự ngộ đạo thành công thì ngươi đã chầu trời rồi.”

 

Câu này thì Tiểu Bạch hiểu, nó hậm hực hừ giọng: “Tôi đã có thiên phú tu đạo thì dù không có vị tiền bối họ Liễu kia giúp đỡ, tự nhiên cũng sẽ có người khác tới giúp thôi. Đây gọi là ông trời tự có an bài.”

 

“Được được được, ông trời tự có an bài, an bài một Liễu tiên như ngươi đến nhà họ Chúc ta, chứng tỏ số ngươi tốt, đi đến đâu cũng có quý nhân phù trợ.”

 

Lời này Tiểu Bạch lại rất thích nghe, lập tức vui vẻ trở lại.

 

Chúc Thập An vừa thấy Tiểu Bạch đáng yêu lại vừa buồn cười.

 

Tất cả đều là số mệnh, tất cả đều là ý trời. Người trong Huyền môn là những tín đồ ngoan đạo nhất của thiên mệnh, thế hệ này nối tiếp thế hệ khác, nó đã trở thành một dấu ấn tư tưởng ăn sâu bám rễ. Chẳng ai còn đi suy nghĩ xem đằng sau cái gọi là "thiên mệnh" ấy liệu có ẩn giấu điều gì hay không.

 

Nhớ năm xưa, thời kỳ phái Thái Nhất hưng thịnh huy hoàng, người trong Huyền môn thời đó đều có tinh thần phản nghịch rất cao: vì cần dùng đến thần nên mới kính thần. Thần không để cho ta dùng, vậy thì phản xuất sư môn, đi tìm chỗ nương tựa khác. Những kẻ cực đoan hơn trong Huyền môn thậm chí còn hô hào "diệt thần tru phật".

 

Bây giờ thì ngược lại rồi, mọi thủ đoạn Huyền môn còn sót lại trên thế gian ngày nay đều trở thành ân huệ. Người trong Huyền môn bắt buộc phải kính thần thì mới có thể cầu xin thần linh cho mình sử dụng sức mạnh.

 

Chúc Thập An đôi khi cũng tự hỏi, mới qua hơn một ngàn năm thôi, sao lại đến nông nỗi này?

 

Có lẽ không nên hoàn toàn đổ lỗi sự suy tàn của Huyền môn cho việc Thiên quỹ đóng cửa. Việc người trong Huyền môn chủ động từ bỏ sự phản nghịch, lựa chọn khuất phục trước thiên mệnh, đó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự lụi tàn.

 

Nghĩ lại thì, Huyền môn thời đó không chỉ có tinh thần phản nghịch mà còn như trăm hoa đua nở. Dù cùng là Đạo môn, nhưng các môn phái bên trong lại thờ cúng những vị tôn thần khác nhau. Đạo môn đã vậy, huống hồ là những môn phái Huyền môn khác không có đức tin thống nhất. Ví dụ như, chỉ một chữ "Vu" cũng có thể sinh ra vô số môn phái nhỏ.

 

Biết bao môn phái từ ngàn năm trước, không bị chôn vùi trong lớp bụi mờ của lịch sử thì cũng bị các phái khác thâu tóm. Thật đáng tiếc.

 

Chúc Thập An trên đường xuống núi vẫn còn đang tiếc nuối cho biết bao tiểu phái Huyền môn xưa kia nay đã biến mất. Nào ngờ vừa về đến nhà, cô đã bắt gặp truyền nhân của một môn phái nhỏ hiếm thấy: đương gia của phái Bài giáo - Mộc Bưu.

 

Bài giáo có liên quan đến phu thả bè. Phu thả bè đều là những người khốn khổ kiếm sống trên sông nước. Tổ sư gia mà họ thờ cúng là Pháp sư Trần Tứ Long. Truyền nhân của Bài giáo sẽ học các loại chú thuật liên quan đến thủy chú, dùng để bảo vệ bản thân không bị quỷ nước đòi mạng hay bệnh tật xâm nhập trong lúc thả bè. Đây là một tiểu pháp phái mang tính thực dụng rất cao.

[Truyện được đăng tải duy nhất tại MonkeyDD.com -

 

Cuộc sống của phu thả bè vô cùng gian nan, sơ sẩy một chút là mất mạng giữa dòng nước xiết. Cuộc sống bấp bênh không biết ngày mai ra sao khiến rất nhiều phu thả bè trở nên liều lĩnh, hung tợn. Điều này phản ánh rõ trên nét mặt của họ, khiến người ta vừa nhìn đã thấy khó chọc vào.

 

Diện mạo của Mộc Bưu - truyền nhân Bài giáo - cực kỳ đúng với ấn tượng rập khuôn về tín đồ phái này. Anh ta cao to lực lưỡng, mặt mày dữ tợn, thuộc kiểu người mà trẻ con gặp phải cũng phải né xa, nhưng thực chất tính cách của anh ta lại rất ôn hòa.

 

Lần đầu gặp mặt, anh ta giới thiệu bản thân với Chúc Thập An: “Chào Chúc đại sư, tôi là Mộc Bưu, do đạo trưởng Lý Thanh Nguyên của tổ hành động Tây Nam giới thiệu tới. Đạo trưởng Lý bảo cô là đạo y, có thể giúp chữa trị căn bệnh về mặt đó.”

 

Lúc nhắc đến "bệnh về mặt đó", giọng Mộc Bưu hơi nhấn mạnh. Chúc Thập An đương nhiên hiểu rõ ý anh ta.

 

Chúc Thập An đ.á.n.h giá tướng mạo Mộc Bưu: ấn đường đen kịt, t.ử khí tràn ra ngoài. Anh ta đã đến bước đường cùng rồi. Nếu cô đoán không lầm, nếu cô không cứu được anh ta, có lẽ anh ta cũng mất mạng luôn.

 

“Tôi đã từng hứa với tổ trưởng tổ hành động Chu Cẩn, tôi là đạo y, quả thực có thể giúp các anh chữa một số căn bệnh khó chữa.”

 

“Chú thuật cô cũng chữa được sao?”

 

“Chắc là chữa được. Nhưng mà, trúng chú thuật thì phải đi tìm vu sư chứ? Sao lại tìm đến đạo y như tôi?”

 

Nghe Chúc Thập An bảo có thể chữa, Mộc Bưu khẽ thở phào nhẹ nhõm. Anh ta kể: “Sau khi phát hiện mình trúng chú thuật, tôi đã đến Vân Nam tìm đại vu sư người bản địa là Vưu Kim Muội. Bà ấy bảo không giải được.”

Thư Sách

 

“Vưu Kim Muội lợi hại lắm sao?”

 

Mộc Bưu gật đầu: “Rất lợi hại. Tổ hành động từng mời bà ấy gia nhập, chỉ là bà ấy lớn tuổi, sức khỏe lại kém nên mới không tham gia. Tuy nhiên, truyền nhân của bà ấy là A Hoa hiện đang ở trong tổ hành động.”

 

Chúc Thập An "ồ" lên một tiếng. Sư phụ của A Hoa à, vậy thì cô đại khái biết Vưu Kim Muội này thuộc môn phái nào rồi.

 

Chúc Thập An vẫn thắc mắc: “Vưu Kim Muội đã là vu sư có tiếng, việc giải chú thuật với bà ấy đáng lẽ không khó, tại sao lại nói không giải được?”

 

Mộc Bưu cười khổ: “Nếu nhất quyết muốn giải thì không phải là không có cách. Vưu Kim Muội bảo loại chú thuật này vô cùng âm độc, muốn hóa giải trừ phi lấy mạng đổi mạng, dẫn truyền chú thuật từ người tôi sang một người khác. Nhưng tôi không muốn hại mạng người, thế nên đành...”

 

Chúc Thập An đã hiểu, liền bảo: “Anh chìa tay ra đây, tay nào cũng được.”

 

Mộc Bưu đưa tay phải ra. Chúc Thập An tóm lấy cổ tay anh ta, vẽ một đạo Bùa Hiển Hiện giữa không trung. Bùa thành, cô vỗ một chưởng lên cổ tay Mộc Bưu. Trên cánh tay anh ta lập tức nổi lên một hàng chú ngữ. Chúc Thập An nghiêng đầu nhìn: “Mấy cái chữ ngoằn ngoèo này là thứ gì vậy? Chẳng giống phù văn chút nào.”

 

Mộc Bưu sợ hãi run rẩy cổ tay: “Tôi từng thấy loại ký tự này ở chỗ Vưu Kim Muội rồi, đây là chữ viết của vùng Đông Nam Á. Kẻ trộm gậy pháp Phá Thủy nhà tôi là vu sư Đông Nam Á sao?”

 

“Gậy pháp Phá Thủy? Có phải cây gậy mà lúc phái Bài giáo các anh thả bè trên sông, người đi đầu thường dùng để gõ xuống nước trấn quỷ không?”

 

"Đúng vậy." Mộc Bưu không ngờ Chúc Thập An lại biết chuyện này.

 

Mỗi lần phu thả bè đi làm nhiệm vụ, người dẫn đầu sẽ cầm gậy pháp Phá Thủy đứng trên chiếc bè gỗ đi đầu tiên. Hễ phát hiện dưới nước có điểm bất thường, anh ta sẽ dùng gậy gõ mạnh xuống mặt nước để trấn áp ác quỷ, bảo vệ các bè gỗ phía sau đi qua trót lọt.

 

Gậy pháp Phá Thủy là một thanh sắt có khắc pháp chú trấn tà, đây cũng là bảo vật gia truyền của nhà họ Mộc. Một tháng trước, cây gậy thờ cúng trong nhà bị trộm mất. Mộc Bưu lần theo dấu vết đuổi theo thì bị đối phương hạ chú đ.á.n.h ngất. Khi tỉnh lại, gậy pháp đã không thấy tăm hơi, còn bản thân anh ta cũng chẳng sống được bao lâu nữa.

 

Quay lại chuyện chính, Chúc Thập An hỏi: “Bọn chúng trộm cây gậy đó làm gì?”

 

Mộc Bưu không biết, anh ta chỉ biết không thể để gậy pháp lưu lạc ra nước ngoài, nhất định phải tìm lại được. Nếu không, dù có c.h.ế.t anh ta cũng không còn mặt mũi nào xuống gặp liệt tổ liệt tông.

 

“Chúc đại sư, chú thuật này có giải được không?”

 

“Được, nhưng anh phải đợi một lát, để tôi cắt một người giấy đã.”

 

Chúc Phượng Cầm nãy giờ vẫn đứng im lặng bên cạnh liền vội nói: “Kéo và giấy vàng đúng không, để dì đi lấy.”

 

Chúc Thập An gọi bà lại khi bà đã bước ra đến cửa: “Dì Phượng, lấy loại giấy vàng trong ngăn kéo của con ấy, tiện thể mang cả b.út chu sa tới luôn nhé.”

 

“Được, dì biết rồi.”

 

Trong lúc yên lặng chờ giấy vàng và kéo, Chúc Thập An không nói gì, nhưng miệng Mộc Bưu lại không thể khép lại được: “Chuyện này nhất định phải báo cáo lên tổ hành động, bên trong chắc chắn có âm mưu. Gậy pháp Phá Thủy không chỉ có tác dụng trấn tà, mà còn có thể khuấy động sóng gió. Nhỡ đâu gậy pháp nhà tôi bị đem đi làm những chuyện thương thiên hại lý thì phải làm sao?”

 

Chúc Thập An châm thêm nước vào chén trà của anh ta: “Anh đừng sốt ruột. Chỉ là một cây gậy pháp mà thôi, cũng chỉ dùng được trên sông ngòi. Đối phương không biết bí quyết, chưa chắc đã dùng được đâu, sẽ không gây ra hậu quả gì nghiêm trọng quá đâu.”

 

“Chúc đại sư, sao cô biết?”

 

Chúc Thập An mỉm cười. Cô không tiện nói thẳng rằng: Tổ sư gia của Bài giáo các anh cũng chỉ có chút bản lĩnh đó, chẳng lẽ truyền đến tay các anh, các anh lại có thể làm Bài giáo phát dương quang đại được hay sao? Nếu thật sự lợi hại đến thế, đã chẳng để người ta mò tận vào nhà trộm mất bảo vật gia truyền.

 

Người ta đã hỏi rồi, Chúc Thập An không trả lời cũng không được. Cô nói: “Nói cho cùng thì chú thuật là một thủ đoạn dùng chú ngữ để khống chế kẻ địch. Nếu người giải chú lợi hại, còn có thể mượn chú thuật lần ra tung tích của kẻ thi triển nó để phản đòn.”

 

Mộc Bưu không dám tin: “Chúc đại sư, cô là đạo y mà cũng am hiểu chú thuật đến thế sao?”