Vào khoảnh khắc lâm chung, Bùi Ngọc nhìn lại cuộc đời mình, hắn đã không còn gì vướng bận. Điều nuối tiếc duy nhất chính là bảy năm trước, trước lúc người kia nhắm mắt xuôi tay, hắn vẫn không thể nói ra được câu nói ấy: Từ năm ta mười tuổi đến mười tám tuổi, ta vẫn luôn dõi theo bước chân ngươi, từ năm mười tám đến năm hai mươi tám tuổi, trong mắt trong tim ta, kiếp này chỉ có mình ngươi, ngươi có nguyện… ở bên ta không?”
Rốt cuộc hắn cũng không thể nói ra, hắn sợ người ấy đi không yên lòng, sợ người ấy đau khổ… Lúc đó hắn vẫn chưa báo thù cho người ấy, sao có thể… Nhưng giờ đây, đại thù đã báo, hắn không còn gì luyến tiếc nữa…
Cuối cùng hắn cũng có thể gặp lại người ấy, cuối cùng cũng có thể nói ra rồi…
Hắn tên là Bùi Ngọc, sinh ra tại một thị trấn nhỏ thuộc vùng biên thùy Lương Châu của Đại Triệu. Lương Châu quanh năm chiến hỏa, thương vong vô số, chỉ cần một chút sơ sẩy cũng có thể vạ lây mất mạng.
Năm hắn sáu tuổi, cha mẹ hắn đã qua đời như thế.
Từ năm sáu tuổi, hắn bắt đầu đi lang thang khắp nơi cùng một lão ăn mày thương xót mình. Cho đến mùa đông năm mười tuổi, trời quá lạnh, lão ăn mày chết cóng, hắn cũng bị rét đến mức nửa sống nửa chết.
Nhưng năm ấy, có lẽ là một mùa đông ấm áp, bởi vì… khi hắn mở mắt ra lần nữa, thứ hắn nhìn thấy là ánh nắng mùa đông, ấm áp đến mức khiến hắn gần như không mở mắt nổi, chỉ muốn dừng lại ở khoảnh khắc đó mãi mãi.
Khi ấy, người nọ mới chỉ mười mấy tuổi, dù mang gương mặt thiếu niên ngây ngô nhưng đã lăn lộn trên chiến trường được mấy năm rồi.
Khoảnh khắc vừa mở mắt ra, hắn đã chạm phải nụ cười sảng khoái của thiếu niên. Thiếu niên thấy hắn tỉnh lại, đôi mắt nheo thành hình trăng khuyết, nụ cười đẹp đến mức làm hắn lầm tưởng rằng ánh nắng ấm áp kia đã hóa thành tinh tú.
Về sau hắn mới nhận ra không phải, đó là một con người, một người đẹp đến mức không tưởng, một vị tiền phong vô cùng lợi hại lớn hơn hắn tám tuổi. Mọi người đều nói người nọ là một vị quan lớn, nhưng hắn chỉ nhìn thấy ánh sao lấp lánh nơi đáy mắt người ấy, khiến hắn lúc nào cũng khao khát được dõi theo.
Hắn mãi mãi không thể quên được khoảnh khắc ấy, dáng vẻ thiếu niên dùng áo choàng bọc kín mít rồi bế thốc hắn lên. Cả đời hắn chưa bao giờ thấy ấm áp đến thế, ấm đến mức đôi bàn tay nhỏ bé của hắn cứ siết chặt lấy vạt áo trước ngực người nọ, không nỡ buông rời.
Thế nhưng, thiếu niên rốt cuộc cũng chỉ ở lại ba ngày. Người ấy chỉ đi ngang qua đây trên đường khải hoàn trở về kinh thành, một nơi cách xa ngàn dặm mà một đứa trẻ như hắn chưa từng dám mơ tưởng tới.
Trước khi rời đi, thiếu niên tìm cho hắn một gia đình tử tế để gửi gắm. Hắn ngơ ngác nhìn người nọ giao mình cho đôi vợ chồng hảo tâm, rồi vẫy tay chào hắn, xoay người lên ngựa…
Đến khi tiếng vó ngựa vang lên, hắn mới sực tỉnh. Hắn khóc rống lên như điên dại, vùng ra khỏi vòng tay người phụ nữ rồi bắt đầu đuổi theo phía trước.
Nhưng đôi chân ngắn ngủn của đứa trẻ làm sao đuổi kịp. Hắn nhanh chóng vấp ngã, tiếng vó ngựa đều đặn át đi tiếng khóc của hắn, quân đội đi mỗi lúc một xa, cuối cùng… không còn thấy bóng dáng đâu nữa.
Hắn đã ở lại trên con đường quan lộ đó suốt ba ngày ba đêm, cuối cùng cũng hiểu ra một đạo lý.
Muốn gặp lại người ấy, hắn chỉ có thể men theo con đường này đuổi theo tới cùng.
Tám năm sau, hắn cuối cùng cũng thành công bước chân vào kinh thành phồn hoa náo nhiệt, trở thành Tiến sĩ hai bảng của khoa thi năm ấy. Thế nhưng hắn vẫn chưa gặp được người đó, nay đã trưởng thành thành một nam tử cao lớn, là cánh tay đắc lực của Thái tử, đang chinh chiến trên sa trường để bảo vệ đất nước, mở mang bờ cõi…
Hắn biết, bấy nhiêu vẫn là chưa đủ, chưa đủ. Hắn đã hao tốn bao tâm huyết để được ở lại kinh thành.
Từ một chức quan nhỏ từng bước leo lên, hắn đợi ròng rã hai năm, cuối cùng sau mười năm xa cách, hắn đã gặp lại người ấy một lần nữa.
Về sau hắn đã dùng chút thủ đoạn, đợi người nọ khải hoàn về kinh, cố tình va phải rồi làm vỡ một miếng mỹ ngọc trên đường người ấy về phủ. Người thanh niên có vóc dáng tương đương hắn vẫn mang gương mặt sảng khoái ấy nói rằng không cần đền, nhưng hắn nhất quyết kiên trì.
Bởi vì thứ hắn mưu cầu… chưa bao giờ đơn thuần chỉ là một lần lướt qua nhau.
Nhưng khi ấy hắn vẫn chưa thấu tỏ, không hề hay biết tâm tư của mình đối với đối phương, chỉ lầm tưởng đó là lòng ngưỡng mộ đối với vị cứu tinh thuở thiếu thời.
Mãi cho đến sau này, khi cha mẹ nuôi qua đời, hắn đang trong thời gian chịu tang. Người thanh niên vốn đã trở thành bạn chí cốt kia tìm đến phúng viếng. Khi ấy hắn đang quỳ trước linh cữu, người nọ hiếm khi gạt bỏ vẻ cười cợt lơ là ngày thường, ánh mắt đầy vẻ u thương tiến đến trước mặt hắn, dang rộng vòng tay ôm chặt lấy hắn: “Đừng buồn, ngươi vẫn còn có ta mà…”
Khoảnh khắc đó, hắn cuối cùng cũng hiểu rõ tâm tư hèn mọn, nhơ nhuốc của chính mình, muốn giam cầm người nọ bên mình cả đời, nhưng cũng không kìm được vẻ cố chấp và cực đoan.
Thế nhưng hắn không dám, hắn sợ một khi nói ra, đến cả việc gặp mặt đối phương cũng không còn cơ hội nữa.
Cũng may, người nọ chỉ đam mê chinh chiến và bảo vệ giang sơn, mỗi lần đi biền biệt vài năm, căn bản chẳng hề để tâm đến chuyện thành gia lập thất. Tuy vài năm mới được gặp nhau vài lần, nhưng hắn chẳng hề thấy buồn phiền.
Hắn cầu nguyện một cách hèn mọn và thành kính rằng người nọ đừng bao giờ lấy vợ.
Nếu không, hắn chẳng biết mình sẽ làm ra chuyện điên rồ gì nếu thấy người ấy thành thân.
Cuộc đời người nọ cũng không phải lúc nào cũng thuận buồm xuôi gió. Có lẽ chính người ấy cũng không ngờ vị Thái tử mà mình dốc lòng phò tá, tức vị Hoàng đế hiện tại, vừa đăng cơ chưa đầy vài tháng đã đột ngột băng hà.
Lần đầu tiên hắn thấy người nọ đau khổ đến nhường ấy. Người ấy tự giam mình trong thư phòng, uống rượu quên ngày đêm, đau đớn đến mức sống không bằng chết. Vị quân chủ mà người ấy hết lòng trung thành đã qua đời… hoài bão của người ấy, bầu trời của người ấy thậm chí đều đã sụp đổ…
Khi hắn đến nơi, đối phương đã say đến mức hồ đồ, ôm lấy hắn khóc lóc thảm thiết. Người ấy khóc vì mình đã không bảo vệ tốt cho Hoàng thượng, khóc vì tương lai giang sơn Đại Triệu sẽ ra sao, khóc cho những người dân lành tội nghiệp…
Hắn đã khuyên nhủ rất lâu, nhìn nam tử đang ôm lấy eo mình khóc như một đứa trẻ, hắn bỗng cảm thấy thiên địa vạn vật này đều chẳng quan trọng bằng một nụ cười hay cái nhíu mày của người trước mặt.
Sau đó, mấy vị tâm phúc của Vân Kích Đế bàn bạc để bào đệ của ngài là Tễ Vương tức vị. Khi ấy hắn đã là một trọng thần trong triều, người nọ muốn phò tá ai, hắn liền giúp người ấy.
Thế nhưng mãi sau này hắn mới biết, đây chính là việc sai lầm nhất mà hắn từng làm trong đời.
Nếu biết được tên Triệu đế kia là kẻ dã tâm lang sói, nếu biết hắn ta ôm lòng hiểm độc, thì dù có phải liều mình đoạn tuyệt với người nọ, hắn cũng nhất định sẽ ngăn cản.
Cho dù hắn có phải mất đi người ấy, cũng không cam lòng nhìn người ấy cuối cùng phải nhận lấy kết cục thảm khốc đến nhường kia.
Nhưng lúc bấy giờ hắn không hề hay biết. Hắn trợ giúp Triệu đế đăng cơ, nhìn thấy người nọ thở phào nhẹ nhõm, nhìn thấy nụ cười rạng rỡ hiện hữu trở lại trên gương mặt người nọ, hắn thấy lòng mãn nguyện vô cùng.
Thế nhưng sự nhẹ nhõm ấy, theo sau những chuyện xảy ra trong hai năm tiếp đó, ngày càng trở nên bất ổn…
Cùng với việc ngày càng nhiều cựu thần của Vân Kích Đế bị giáng chức, người nọ ngày càng trở nên nóng nảy, lo âu, nhưng lại chẳng biết rốt cuộc mọi chuyện là thế nào?
Mà tình cảm hắn dành cho người ấy cũng đã đạt đến đỉnh điểm. Hắn sợ mình sắp không thể kìm nén được nữa, nhưng nhìn hàng chân mày ngày một nhíu chặt của người nọ, hắn lại không đành lòng.
Không đành lòng khiến người ấy phải thêm phiền muộn, vì vậy, hắn tự nhủ, hãy chờ thêm chút nữa… chờ thêm chút nữa thôi…
Thời điểm đó, tại Lương Châu bùng phát dịch bệnh. Vì thiên tai nghiêm trọng, trên triều đình không một ai dám dấn thân đến đó. Người nọ không nỡ để bách tính chịu cảnh lầm than, kiên quyết muốn lên đường. Hắn làm sao nỡ để người ấy đi?
Thế là trước khi người nọ kịp lên tiếng, hắn đã đứng ra thỉnh mệnh trong lúc nguy nan, cuối cùng nhiệm vụ này đã rơi vào đầu hắn.
Người nọ nhìn hắn chằm chằm hồi lâu, ánh mắt chất chứa bao điều muốn nói lại thôi, nhưng rốt cuộc chẳng lời nào được thốt ra. Người ấy vỗ vỗ vai hắn: “Ngươi thật là…”
Khoảnh khắc ấy, hắn nhìn thấy trong đáy mắt người nọ chỉ có duy nhất hình bóng mình. Hắn cảm thấy dù phía trước có là đao núi biển lửa, hắn cũng cam lòng như nếm mật ngọt.
Thế nhưng lúc ấy hắn đâu ngờ rằng, lần ly biệt này, lại chính là âm dương cách trở.
Chỉ mới rời đi được hơn một tháng, người nọ đột nhiên gặp chuyện ở kinh thành
Người ấy bị Định quốc công vu cáo tội khi quân phạm thượng, tham ô nhận hối lộ, tàn bạo sát hại người vô tội. Từng kiện từng kiện chứng cứ giả mạo được ngụy tạo thậm chí kéo dài suốt hai năm qua. Chứng cứ rành rành khiến cả triều chấn động, Triệu đế thịnh nộ, chỉ trong vòng vài ngày đã trực tiếp định tội người ấy. Cả gia đình già trẻ lớn bé đều bị đày đi lưu vong nơi khổ hàn, còn Nhiếp Trung lang tuy tội đáng xử lăng trì, nhưng vì chiến công hiển hách trong quá khứ, Triệu đế đã miễn cho ông tội chết.
Khi hắn nhận được tin thì đã quá muộn. Hắn vẫn như điên dại từ trên đường quay trở về, chạy chết mấy con ngựa, nhưng khi đến nơi lại bị phó tướng của người nọ chặn lại ở ngoài thành.
Viên phó tướng quỳ rạp dưới đất, đôi mắt đỏ ngầu, hai tay dâng lên một bức thư: “Ngự sử đại nhân, đây là… thư đại nhân để lại cho ngài.”
Tay hắn run rẩy cầm lấy bức thư với nét chữ quen thuộc, nhìn từng chữ một, nhìn đến mức hốc mắt nứt toác, đôi mắt đỏ rực như máu. Khi đọc đến câu cuối cùng, rốt cuộc hắn không kìm được phun ra một ngụm máu tươi.
Người ấy viết: “A Ngọc, ca cầu xin ngươi chuyện cuối cùng, hãy dùng mạng của ca để đổi lấy mạng sống cho hơn 170 người Nhiếp gia.”
Nhìn ba chữ Nhiếp Bình tuyệt bút ở cuối thư, làm sao hắn có thể nhẫn tâm chính tay tiễn người ấy vào chỗ chết?
Dáng vẻ thổ huyết của hắn khiến viên phó tướng hoảng sợ. Thấy hắn định tiếp tục xông lên, viên phó tướng liều mạng ôm chặt lấy chân hắn: “Ngự sử đại nhân, ngài đau lòng chúng ta đều biết, nhưng có ai trong chúng ta không đau lòng đâu? Nhưng biết làm sao đây? Gian thần lộng hành, Thánh thượng nghe lời nịnh hót, nhất quyết tin đại nhân có lòng mưu phản. Triệu đế đã phái 500 tử sĩ mai phục trên đường lưu đày, chờ đợi đại nhân và hơn 170 mạng người chính là sự diệt môn hoàn toàn… Ngự sử đại nhân, đại nhân biết mình không sống nổi, nhưng đó là người nhà của ngài ấy, nếu họ có chuyện gì, dù ngài có giữ được mạng cho đại nhân, ngài nghĩ đại nhân có chịu sống một mình không?”
Hắn không biết cuối cùng mình đã về phủ bằng cách nào, hắn tự giam mình trong thư phòng suốt một đêm.
Ngày hôm sau, hắn lau mặt thật sạch, từng lớp từng lớp một mặc triều phục lên người. Lần này lên triều sớm, hắn không ngồi kiệu mềm mà chọn cách đi bộ. Hắn bước từng bước một, đi từ lúc nửa đêm cho đến khi trời hửng sáng, từng bước tiến về phía con đường hoàng đạo đang dồn hắn vào tử lộ, cho đến khi… cuối cùng chỉ còn lại một bước cuối, hắn quỳ sụp xuống trước ngự thư phòng.
Hắn nghe thấy giọng nói của chính mình, bình tĩnh rõ ràng, nhưng tàn nhẫn và tuyệt vọng: “Thần… khẩn cầu Hoàng thượng xử cực hình đối với Nhiếp Trung lang Nhiếp Bình. Kẻ đại gian đại ác như thế tuyệt đối không thể buông tha, đáng bị xử lăng trì, không thể vì công lao quá khứ mà dung thứ cho loại ác nhân này.”
Hắn quỳ ngoài ngự thư phòng suốt ba ngày ba đêm, không hề lay động, tựa như một cái xác không hồn.
Hắn thấy đồng liêu đi qua đi lại chỉ trỏ vào mình, nhưng hắn vẫn chết lặng quỳ ở đó, từ lâu đã chẳng còn nghe thấy hay nhìn thấy bất cứ âm thanh, hình ảnh nào nữa. Bên tai hắn chỉ không ngừng vang vọng giọng nói và tiếng cười của người ấy năm xưa, nếu không, hắn sợ mình căn bản không thể kiên trì nổi, sợ rằng mình sẽ lập tức xông vào thiên lao, dù có phải chết cũng muốn cướp người ấy ra ngoài.
Đó là người mà hắn đã ngưỡng vọng suốt mười tám năm ròng, kết quả… lại chính là hắn tiễn người ấy vào chỗ chết.
Nhiếp Bình, sao ngươi có thể tàn nhẫn đến mức này?
Hắn kiên trì ba ngày, Triệu đế cuối cùng cũng đồng ý. Tuy nhiên Triệu đế vẫn dùng giọng điệu giả nhân giả nghĩa nói rằng ai làm nấy chịu, cuối cùng chỉ phán người ấy tội trảm thủ, còn người nhà của người ấy thì được đổi từ lưu đày thành giáng làm thường dân, đời đời không được bước vào triều làm quan.
Khi được khiêng ra khỏi cung, hắn nhìn lên bầu trời, đôi mắt mở trừng trừng không cách nào nhắm lại. Hắn đã bảo vệ được gia đình của người ấy, nhưng cuối cùng… lại không thể giữ nổi người ấy.
…
Khi Bùi Ngọc trút hơi thở cuối cùng, hắn dường như lại thấy người nọ trong bộ giáp phục hăng hái khí thế, cưỡi trên lưng đại mã, vẫn là dáng vẻ thiếu niên năm nào, đang thúc ngựa lao về phía mình. Ánh nắng sớm sau lưng người ấy chói lòa rực rỡ, hắn chậm rãi khép mắt lại trong nụ cười sảng khoái của đối phương.
Nhiếp Bình, trên cầu Nại Hà, có thể chờ ta một chút không?
…
Thế nhưng khi Bùi Ngọc mở mắt ra lần nữa, hắn nghĩ chắc mình vẫn đang trong cơn lâm chung, nếu không, tại sao hắn lại đang đứng giữa phố phường kinh thành phồn hoa thế này? Tại sao dường như hắn lại trở về đúng khoảnh khắc đầu tiên gặp lại người nọ năm ấy sau khi đến kinh thành? Hắn thấy người nọ vẫn như năm nào, vận y phục sang trọng, đón ánh mặt trời đi về phía mình, diện mạo sống động đang say sưa đàm luận với tướng sĩ bên cạnh.
Giây phút đối phương đi lướt qua vai hắn, vạt áo lay động khiến miếng mỹ ngọc bên hông rơi xuống đất. Hắn thấy nam tử trẻ tuổi quay người nhìn mình, kinh ngạc nhướng mày, sau đó nở nụ cười sảng khoái: “Không cần đâu, là tự ta không cẩn thận.”
Bùi Ngọc nghe thấy giọng nói của chính mình, khàn đục và run rẩy, khóe miệng nở nụ cười nhưng đôi mắt lại đỏ hoe, nói rằng: “Nhưng ta muốn đền cho ngài… ta đền chính mình cho ngài, có được không?”