Chu Hành luôn tin vào một câu: Tâm hữu sở cảm, định yếu sở tri, tri tắc yếu kiến. (lòng có nghi hoặc, nhất định phải tìm hiểu, hiểu rồi phải thấy tận mắt.)
Chính mắt thấy mới là thật.
Gã sở tu công pháp Chân Huyết Thất Biến, tức là chọn một loại chân huyết để Trúc Cơ. Sau khi Trúc Cơ sẽ căn cứ vào chân huyết đó mà phối hợp với các loại chân huyết khác.
Cũng giống như dùng Chân Sát để Trúc Cơ, sau đó dùng Thiên Cương để mở Tử Phủ. Nhưng cuối cùng Kết Đan vẫn phải tuân theo nguyên tắc âm dương giao hòa, hoặc là đồng tính tương sinh, hoặc là ngũ hành tương sinh.
Ba loại trên là phổ biến nhất, dễ được chấp nhận nhất nhưng thiên hạ không phải chỉ có ba loại này, còn có Tam Tài pháp, Tứ Thời pháp, Lục Khí pháp, Thất Tinh pháp, Bát Quái pháp, Cửu Cung pháp, Thập Toàn pháp.
Vì vậy, lúc mọi người ở Hạ Viện núi Thiên Đô đều đã được dạy những điều cơ sở này. Đệ tử xuất thân từ Hạ Viện núi Thiên Đô, nếu chăm chỉ học hành thì dù không có có sở thành trong tu hành nhưng vẫn có ánh mắt nhận định đấy. Một số tán tu có khả năng tu luyện Huyền Quang, thậm chí may mắn Trúc Cơ nhưng chưa chắc đã hiểu biết nhiều bằng đệ tử Hạ Viện núi Thiên Đô.
Chỉ là Chân Huyết Thất Biến độc hữu của Vương thất cũng có những huyền diệu riêng.
Tên đầy đủ của nó là Chân Huyết Thất Biến Bảo Điển. Nếu bị lộ ra ngoài thiên hạ chắc chắn sẽ bị tu sĩ thiên hạ tranh giành, rất nhiều môn phái cỡ trung cũng không có công pháp cấp bảo điển, tuy Chân Huyết Thất Biến Bảo Điển không phải là công pháp tu luyện chủ lưu mà theo đuổi dị biến và thăng hoa của huyết mạch, nhưng nếu rơi vào tay chưởng môn của tiểu môn phái nào đó, đại khái đối phương sẽ không chút do dự đổi công pháp tu hành.
Lúc Trúc Cơ, gã dùng ba loại máu cá mang theo một tia Long huyết là Kim Nhãn lý do hoàng gia nuôi dưỡng trong rừng, Long Tu Thanh lý do Ly Sơn dâng lễ và Lam Huyết lý tình cờ có được mà ngưng luyện thành chân huyết.
Cho nên khi biết nơi đây có rắn hóa giao, gã mới lập tức chạy tới.
Tuy con rắn ở núi Bàn Xà này hóa giao thất bại, nhưng đã vượt qua một lần lôi kiếp, chắc chắn đã một chút biến dị. Nếu nó thành công hóa giao, chưa chắc gã dễ dàng đoạt được chân huyết của nó, bởi sau khi hóa giao thì nó đã tương đương với tu sĩ Kim Đan rồi.
Năm đó, Vũ Đế Đại Chu khai quốc từng có giao ước với yêu tộc thiên hạ, nếu yêu quái kết thành nội đan thì nơi chúng thành đạo sẽ là đạo tràng của chính nó, các phái trong thiên hạ và vương thất Đại Chu, thế gia đều phải công nhận.
Đương nhiên, nếu nơi yêu quái đắc đạo thuộc về địa bàn của môn phái khác thì chúng có thể chọn một nơi vô chủ khác trong Đại Chu làm đạo tràng. Chỉ là đa số chúng đều sẽ rời đi, đến hải ngoại tìm một hòn đảo nhỏ vô chủ nào đó thành lập đạo tràng của mình, hoặc là đến Vĩnh Dạ Thiên ở phía nam, là thiên đường của yêu ma.
Nhưng không phải tất cả yêu ma nào cũng muốn đến Vĩnh Dạ Thiên. Mấy yêu quái lớn trưởng thành nơi này ít nhiều đã bị công pháp của nhân loại ảnh hưởng, không giống yêu ma bên trong Vĩnh Dạ Thiên không biết kiêng nể gì cả.
Tư Tùng Niên xuất thân từ núi Nhạn Minh nằm ở phía bắc vương thành, có tác dụng bảo vệ vương thành. Tu sĩ ở đó đều là những tướng sĩ từng theo Vũ Vương đánh thiên hạ lập chiến công rồi được ban cho công pháp, lại được ban thưởng cho phép tu hành ở núi Nhạn Minh. Dần dần, núi Nhạn Minh rộng lớn cũng bắt đầu ngày càng có nhiều tu sĩ. Tổ tiên những tu sĩ này đều là tướng sĩ được triều đình cung phụng, đều có phẩm cấp, còn dựa theo phẩm cấp mà phát linh thạch.
Cho nên khi chư vương tử, công tử của hoàng thất có việc cần đều có thể tới núi Nhạn Minh tìm tu sĩ làm hộ vệ. Đương nhiên sau khi thành hộ vệ cũng sẽ được nhận bổng lộc.
Tư Tùng Niên dùng Hỏa sát trúc đạo cơ, tu hành Thiên Hỏa Dung Tâm diệu pháp. Ông ta không tu nhiều pháp thuật nhưng từ nhỏ đã tu Xích Viêm kiếm quyết, cực kỳ tinh diệu, không chỉ có tiếng tăm lừng lẫy trong núi Nhạn Minh mà còn có thanh danh không nhỏ ở phương Bắc. Từng có chiến công một mình vào một tòa mộ huyệt, ba kiếm chém chết một con quỷ vương ngàn năm. Vì tổ tiên từng là binh sĩ, nên kiếm thuật của ông ta không phải là thuật phi kiếm mà là thuật cầm nắm trường kiếm, cận thân chém giết, chém đầu giết địch trong tích tắc.
Ông ta đi trước, dẫn theo Chu Hành đi về phía lúc nãy nhìn thấy ánh sáng rực rỡ kia, chỉ thấy được một tảng đá lớn, không thấy bất kỳ ai khác cả. Dấu vết lưu lại có thể nhìn ra có ít nhất ba người từng ở đây.
Nhất là dấu vết trên mặt đất, chắc chắn có người đã thi triển pháp môn thổ hành.
Một tu sĩ Trúc Cơ bên cạnh Chu Hành khẽ nhúc nhích mũi, ngửi ngửi mùi trong không khí: "Điện hạ, có ba người, trong đó có ít nhất hai nữ tử."
Tu sĩ đó hếch mũi lên, vành mũi phình ra, chóp mũi đỏ ửng. Bị mọi người nhìn, mặt gã chợt đỏ lên, kích động nói: "Trên người hai nữ tử đó có mùi thơm của nước hoa Mật Ngọt và nước hoa Thiên Lộ của Thủy Tú phường."
"Còn người kia trên người không có mùi nước hoa, đại khái là nam tử, mùi trên người rất nhạt không thể phân biệt được nhưng hắn là ở nơi này họa phù."
"Mùi của mực vẽ phù hoàn toàn không phải là loại thường thấy trên thị trường."
Không ai biết tên thật của gã là gì, hiện mọi người đều gọi là Cẩu Tị đạo nhân. Gã không có bản lĩnh gì khác ngoài việc có thể phân biệt mùi hương, chỉ cần ngửi qua một lần là lần sau nhất định nhớ rõ mùi kia là tới từ đâu.
"Có thể tự chế mực vẽ phù, ở nước Đại Chu không hiếm."
Một người khác nói: "Hơn nữa son phấn nước hoa của Thủy Tú phường được bán khắp các thành trì Đại Chu, rất nhiều người dùng, cái mũi này của người ngửi cũng như không ngửi."
Y không muốn Cẩu Tị đạo nhân gây ấn tượng tốt trước mặt Điện Hạ.
"Hừ, vậy ngươi nhìn ra được gì ở đây?" Cẩu Tị đạo nhân hừ lạnh.
Chu Hành không quan tâm đến nội đấu bên cạnh mình, gã thấy cạnh tranh thế này rất tốt, dễ dàng quản lý bọn họ hơn.
"Vậy để ngươi thấy uy lực của bảo bối trấn sơn của Viên Quang động ta." Huyền Cơ đạo nhân nói xong, mới nói với Chu Hành: "Điện hạ, đây là pháp khí do tổ tiên luyện chế, tuy không phải là pháp bảo nhưng huyền diệu trong đó không thua kém gì pháp bảo, thậm chí có nhiều điểm còn hữu ích thiết thực hơn một số pháp bảo nữa."
Chu Hành cười nói: "Ta biết Viên Quang động ở núi Nhạn Minh có Viên Quang Hồi Tố chi pháp, nên mới thỉnh đạo trưởng rời núi mượn nhờ diệu pháp của đạo trưởng tìm kiếm giúp ta. Nếu đạo trưởng lập công được, sẽ không thể thiếu chỗ tốt cho đạo trưởng."
Huyền Cơ đạo nhân kia có thân hình gầy gò, mặc đạo bào âm dương, trên mặt lộ ra nụ cười xán lạn: "Điện hạ, nhìn xem."
Nói xong y lấy một chiếc gương tròn từ trong túi càn khôn may phía bên trong ngực áo bào ra. Tấm gương lớn chừng lòng bàn tay, mặt lưng có điêu khắc phù văn phức tạp, mặt gương vừa hay lại không hề phản chiếu gì cả.
Y lấy ra, hà hơi lên mặt gương, còn thò tay lau mặt gương sau đó mới nhẩm niệm khẩu quyết, chiếu tấm gương vào chỗ tảng đá.
Hiển nhiên y cũng biết có người đã ngồi trên tảng đá họa phù, cũng là điều mà mọi người đang quan tâm.
Tất cả nhìn vào mặt gương, thấy mặt gương vốn đen kịt không có gì dần dần hiện lên màu sắc, rồi hiện ra một hình ảnh. Hình ảnh ban đầu là ánh sáng với rất nhiều màu sắc, sau đó dần hội tụ thành một địa phương cụ thể.
Tảng đá được hiện lên trong gương không chỉ là một tảng đá xanh mà còn có một bóng người nữa. Bóng người kia không rõ ràng cho lắm, vô cùng mờ ảo như thể hòa làm một với mảnh hư không. Y mới muốn hiển hiện rõ ràng ra thêm nữa. Vì vậy mới nhẩm niệm thầm: "Kính tâm hiển diệu, chiếu rõ quá khứ."
Mặt gương sáng hơn, thế nhưng bóng người mờ ảo đó lại như sóng nước bị khuấy động mà hóa thành từng gợn sóng, nhộn nhạo vặn vẹo, bóng người kia như thể cái bóng dưới mặt nước bị đánh tản ra, hóa thành một mảnh ánh sáng. Ánh sáng kia là một quầng lửa trắng bệch, như xuyên qua mặt gương mà ra ngoài. Tay cầm gương của Huyền Cơ đạo nhân không khỏi buông lỏng ra, bởi y cảm thấy tấm gương quá nóng, không buông tay sẽ bị đốt bỏng mất.
Tấm gương rơi xuống đất, y vội vàng nhặt lên, tấm gương vào tay chỉ còn hơi ấm ấm, không nóng bỏng tay nữa. Nhưng khi ý thức của y nhập vào gương, lại cảm thấy bảo kính mình ôn dưỡng nhiều năm đã hoàn toàn lạ lẫm, như thể biến thành một nữ tử cao lãnh lạ lẫm vậy. Y muốn khóc, ngẩng đầu nhìn Điện Hạ và những người khác, thấy trong ánh mắt Điện Hạ có nghi hoặc, lại không dám nói mình phải tế luyện lại bảo kính, không biết linh tính của nó có bị tổn hại hay không.
Muốn dùng lại bảo kính, ít nhất cũng phải mất mấy năm nữa .
Những người khác, nhất là Cẩu Tị đạo nhân, trong mắt càng đầy vui vẻ.
"Xem ra, có cao nhân đã vẽ phù ở đây, vẽ một đạo phù lục nguy hiểm nên Điện Hạ mới cảm thấy bất an." Tư Tùng Niên nói.
Chu Hành nhìn tảng đá, nói: "Đi thôi, đi vào núi, tìm được con bạch xà độ kiếp kia mới xem như chuyến này không bõ công đi."
Một nhóm người bọn họ lại lần nữa trở lại con đường ban đầu, đi thẳng vào trong núi sâu, rất nhanh cả bọn đã bị núi xanh nước biếc che khuất bóng dáng.
Sau khi bọn họ biến mất, một bóng người mới từ trong bóng râm dưới rừng cây bước ra.
Triệu Phụ Vân ẩn mình trong bóng râm của rừng cây, pháp môn ẩn thân của hắn hiện tại càng thêm huyền diệu. Hắn thấy ẩn thân pháp này nhìn như đơn giản nhưng nếu tập trung nghiên cứu thâm sâu hơn lại vô cùng huyền diệu.
Bây giờ hắn ẩn thân tàng hình, vậy sau này hắn có thể ẩn giấu được một chuyện một việc nào đó không? Sâu xa hơn, xa hơn nữa, không phải có thể khiến một người ẩn độn biến mất hoàn toàn khỏi thế gian này?
Đương nhiên đây là kì vọng của hắn về pháp thuật này mà thôi.
Triệu Phụ Vân cảm nhận được khí tức của nhóm người lưu lại trong hư không, hắn nghĩ thầm nếu có thể bắt được khí tức đối phương lưu lại giữa trời đất thì có thể thi triển chú sát thuật thi pháp từ xa, không cần mạo hiểm tới gần làm gì.
Hắn đi theo sau đối phương, bám sát mà đi.
Một nhóm người Chu Hành vào núi, Chu Hành quay đầu lại nhìn, nhưng không nói gì. Gã cứ cảm thấy có ai đó đang theo dõi mình.
Một linh cảm xấu từ sâu trong linh hồn khiến gã cảm giác sau lưng bị châm chích. Đó là bản năng mà gã có được sau khi dùng chân huyết Trúc Cơ, có thể cảm nhận được nguy hiểm, ngay cả tu sĩ Tử Phủ bên cạnh cũng không nhạy bằng gã.
"Điện hạ, làm sao vậy? Điện Hạ là cảm thấy phía sau có người?" Tư Tùng Niên hỏi.
Chu Hành nhíu mày, khẽ gật đầu.
Tuy Tư Tùng Niên không có cảm giác nhưng ông ta cũng biết Điện Hạ tu hành công pháp khác hẳn với tu sĩ bình thường, là bảo điển của vương thất, vô cùng huyền diệu, có thể cảm nhận được những thứ mà ông ta không cảm nhận được là chuyện rất bình thường. Vì vậy ông ta truyền âm: "Không bằng Điện Hạ đi trước, ta sẽ ẩn nấp bên cạnh, xem có thể tìm ra được kẻ đang theo đuôi hay không."
Chu Hành suy nghĩ một chút, rồi gật đầu.
Gã đi trước, tới phía sau một gốc đại thụ, Tư Tùng Niên bèn móc ra một tượng người gỗ, là tượng gỗ hình dáng giống Tư Tùng Niên trông rất sống động.
Đây là rối gỗ thế thân của ông ta, có thể thi huyễn hóa thuật, huyễn háo thành bản thân mình, còn có thể thay mình ngăn cản chú sát thuật.
Ông ta ném rối gỗ xuống mặt đất. Rối gỗ rơi xuống nhanh chóng biến hóa, y phục trên người như thể được một bàn tay vô hình tô màu mà mang màu sắc y hệt trên người Tư Tùng Niên. Pháp quang sáng lên, rối gỗ nhanh chóng biến lớn, từ bằng đứa trẻ trong nháy mắt đã trưởng thành, rồi già đi, trở thành bộ dáng của Tư Tùng Niên bây giờ.
Ban đầu thế thân Tư Tùng Niên còn rất cứng ngắc, nhưng trên mặt nó đã nhanh chóng nở nụ cười tươi. Bước chân di chuyển hai ba bước đầu còn chưa linh hoạt, chậm chạp mà đi, nhưng sau bốn bước thì đã như người thường rồi.
Chu Hành dẫn theo thế thân của Tư Tùng Niên đi sâu vào trong núi, còn Tư Tùng Niên lại ẩn nấp phía sau gốc cây, tay cầm một đạo phù vỗ lên người. Phù lục kia hóa thành một vầng sáng nhàn nhạt bao phủ cả người ông ta, thân thể ẩn vào trong làn khói. Làn khói nhanh chóng tan đi, mà Tư Tùng Niên trong đó như căn bản chưa từng tồn tại.
Triệu Phụ Vân đứng im trong bóng tối không hề động, vì hắn cảm nhận rõ phía sau gốc cây trước mặt có một luồng nhiệt cực nóng không hề động. Hắn biết luồng nhiệt kia thuộc về tu sĩ Tử Phủ bên trong nhóm người này.
Chỉ là lúc trước hắn nhìn thấy trong nhóm người cũng có gã tu sĩ Tử Phủ, không khỏi nghĩ Tư Tùng Niên cùng đi trong nhóm người chắc chắn là giả.
Hắn không dám dùng mắt nhìn thấu pháp thuật của đối phương, nhưng hắn cảm nhận được trên người Tư Tùng Niên vừa rời đi không có hỏa khí cực nóng. Hắn mẫn cảm với hỏa khí, cho nên biết rõ nơi nào trong mảnh rừng núi này có hỏa khí nóng nhất. Thế nhưng hắn không dám dùng mắt nhìn thẳng, vì sợ ngưng mắt nhìn sẽ phá giải pháp thuật của đối phương.
Lúc này Tư Tùng Niên đang ẩn nấp sau gốc cây, là đang đợi hắn?
"Thật cảnh giác." Triệu Phụ Vân thầm nghĩ.
Hắn không di chuyển, mà đứng đợi.
Lúc này Chu Hành đã tách khỏi tu sĩ Tử Phủ, như vậy vừa hay xem thử vị chưởng quầy của tiệm tạp hóa có ra tay hay không. Nếu y đã đến thì hiện tại chính là một cơ hội tốt.
Thời gian trôi qua từng chút một.
Tư Tùng Niên đứng đó, ông ta tin rằng chỉ cần có người đi qua bên cạnh, dù có ẩn thân tàng hình thì mình vẫn phát hiện ra được.
Nhưng trong lòng ông ta lại có một nỗi lo khác, sợ rằng mình và Điện Hạ tách ra, Điện Hạ sẽ gặp nguy hiểm trong núi này.
Rừng cây xào xạc trong gió, dập dềnh từng cơn. Nhìn xa xa, sương mù đã nổi lên khiến dãy núi trở nên mờ ảo và thần bí.
Cây cối rậm rạp đã che khuất cả nhóm người Chu Hành đi.
Ông ta phát hiện dãy núi này khá nguy hiểm, khó trách con rắn có thể ở đây tu hành đến cấp độ hóa giao.
Đột nhiên, ông ta nghe thấy tiếng gầm gừ trầm thấp như tiếng thú gào.
Ông ta không khỏi căng thẳng, vội vàng đuổi theo hướng nhóm người Chu Hành vừa đi.
Ông ta nghĩ đó là tiếng gào của bạch xà hóa giao. Mình không ở bên cạnh Điện Hạ thì bạch xà kia xuất hiện, ông ta chợt thấy lạnh lẽo đáng sợ.
Trong rừng rậm hoang vu, con mồi không hẳn vẫn luôn cố định không đổi đấy.