“Bà nhào bột thì ta cũng nhào bột, bà thái rau thì ta cũng học thái rau.”
“Không với tới bếp lò thì ta đứng kê lên ghế đẩu.”
“Rồi sau đó thì sao?”
“Rồi sau đó tự mình ra tay làm được thôi.” Ta nhún vai.
“Nhìn mãi thành quen mắt, tự nhiên sẽ biết làm.”
“Triệu ma ma bảo ta trời sinh là để ăn bát cơm này, tay khéo, học thứ gì cũng nhanh.”
“Thế A mã và Ngạch nương của nàng đâu?”
Con d.a.o trong tay ta khựng hẳn lại.
Gian bếp thoáng chốc chìm vào tĩnh lặng, chỉ còn tiếng nồi nước dùng sùng sục và tiếng mưa rơi rả rích ngoài hiên.
“Không biết.” Ta đáp, giọng điệu bình thản đến mức chẳng gợn chút sóng.
“Triệu ma ma nói, ta bị người ta vứt bỏ trong lều củi trước cửa thiện phòng.”
“Khi ấy trời đã vào thu, khí lạnh bắt đầu kéo về, ta được quấn trong một chiếc áo bông rách tơi tả, khóc như một con mèo con.”
“Triệu ma ma động lòng thương xót, nên giữ ta lại nuôi.”
Ta dừng một chút, rồi lại bổ sung thêm một câu.
“Có thể là cung nữ nào đó phạm cấm kỵ, cũng có thể là vì nguyên do nào khác.”
“Dù sao thì ta cũng không biết, càng không có chỗ để tra hỏi.”
Nói xong, ta cười cười, đem vắt bột đã chia kéo thành những sợi dài mảnh.
“Để Bối lặc gia chê cười rồi.”
“Một nha đầu nhóm lửa đến cha mẹ là ai cũng không biết như ta, lại có phúc phận được làm Phúc tấn của người, cũng chẳng trách ban đầu người phải bỏ trốn.”
Lời vừa dứt, một đôi bàn tay bỗng nhẹ nhàng phủ lên mu bàn tay ta.
“Không phải như thế,” hắn lên tiếng.
“Ta bỏ trốn, là vì sợ bản thân làm lỡ dở đời nàng.”
“Ta còn sợ… nàng sẽ chê cười ta.”
“Ta với bộ dạng khi đó, ai nhìn thấy cũng mắng là đồ béo ịch vô dụng, là thứ bỏ đi chỉ biết dựa vào phụ mẫu.”
Ta ngẩng đầu lên, bắt gặp trong ánh mắt hắn sự dè dặt cùng mấy phần thương xót chân thành.
“Với lại, sau này đừng gọi ta là Bối lặc gia nữa.”
“Ta tên Cảnh Huyên.”
Ta nhìn sâu vào mắt hắn, chỉ thấy sống mũi chợt cay cay.
Hắn đã không còn là đứa trẻ rụt rè núp sau lớp thịt mỡ dày nữa.
Hắn đang từng bước, từng bước đi ra ngoài, cũng đang cố gắng dùng thứ ánh sáng hiền hòa nhất trên người mình để sưởi ấm cho ta.
“Cảnh Huyên.”
Ta khẽ gọi một tiếng.
Đôi mắt hắn thoáng chốc rực sáng.
“Thế còn tên của nàng?” Hắn hỏi.
“Nàng chỉ nói mình tên Mạc Du. Nhưng Mạc Du là tên nàng tự gọi, hay là…”
“Là tên của ta.”
“Do Triệu ma ma đặt cho. Bà bảo chữ Du nghĩa là chốn dừng chân. Bà mong ta không còn ưu sầu, có nơi để nương tựa.”
[Truyện được đăng tải duy nhất tại MonkeyDD.com -
Hắn tiếp lời hỏi: “Vậy nay đã xem như không còn ưu sầu, cũng đã có chốn dừng chân chưa?”
“Xem như là thế.”
Ta nghe ra hàm ý sâu xa trong lời hắn, có chút thẹn thùng cúi đầu xuống.
Hắn như thể không nhìn ra sự e lệ của ta, vẫn sấn lại gần hơn.
“Vậy ta có Mạc Du rồi, cũng không còn ưu sầu, cũng đã có chốn dừng chân.”
Ta ngượng ngùng không biết nên tiếp lời thế nào, đành nhét vắt bột đã thái vào tay hắn.
Hai vắt bột được nắn thành dải dài tung lên không trung, rồi vô tình quấn c.h.ặ.t lấy nhau.
Ta và hắn nhìn dải bột trong tay, lại nhìn nhau mỉm cười.
Mưa bên ngoài chẳng biết đã tạnh từ lúc nào, ánh mặt trời xuyên qua khe mây rọi xuống, chiếu lên mái ngói còn đẫm nước, sáng lấp lánh như ngọc.
Mùi thơm của mì kiều mạch trong gian bếp hòa quyện cùng mùi cỏ xanh ngai ngái sau mưa.
Ta chợt cảm thấy, mọi thứ đều thật viên mãn.
Cứ thế này mà sống qua ngày, đã là tốt nhất rồi.
Trời vào lập thu, tiết trời mỗi ngày một se lạnh hơn.
Luống cải trắng trong vườn đã thu hoạch đến đợt cuối cùng, ta muối được hai vại dưa chua.
Phần còn lại đem phơi khô làm rau sấy, để dành mùa đông hầm thịt ăn.
Cảnh Huyên giờ đây cả ngày đều rúc trong thiện phòng cùng ta.
Trải qua một mùa hè khổ cực rèn giũa, hắn đã gầy đi không ít.
Thân hình hiện tại cũng có thể xưng là dong dỏng cân đối.
Hôm ấy, hắn đứng giữa sân phơi rau khô, bỗng thốt lên một câu: “Mùa đông năm nay, đủ ăn rồi.”
Từ quản gia vừa vặn đi ngang qua, nghe thấy lời này, hốc mắt lại đỏ hoe.
Ta ngồi xổm dưới gốc cây quế nhặt hoa rơi, giả vờ như không nhìn thấy, nhưng trong lòng cũng theo đó mà xót xa.
Từ quản gia hẳn đang nhớ lại những tháng ngày xưa cũ.
Trong phủ Bối lặc, chỉ có một mình ông túc trực bên đứa trẻ câm lặng kia, canh giữ khoảng sân vắng lặng, cùng nhau chống chọi qua từng ngày rét mướt.
Nhưng nay đã khác rồi.
Cái viện này nay đã có hơi khói nhân gian, có tiếng cười nói vang vọng, có bóng hai người kề vai sát cánh trước bếp lò.
Ta cũng bùi ngùi lau nước mắt, rồi lại nhớ đến mùa thu trong cung cấm.
Hoa quế trong phủ Bối lặc nở không sớm bằng hoa quế trong cung.
Những năm trước vào tầm này, món bánh hoa quế mà Thái phi nương nương thích nhất, ta đã chuẩn bị xong xuôi từ lâu.
Nương nương thường dẫn đám tiểu cung nữ chúng ta ra ngồi dưới gốc cây quế, vừa ăn bánh hoa quế vừa ngắm trăng thu.
Người từng kể rằng, khi xưa huynh trưởng và tẩu tẩu của người cũng từng dẫn người ra sân ngửi hương hoa thưởng nguyệt như thế.
Người nói hoa quế trong phủ Bối lặc tuy không được chăm bón kỹ lưỡng như trong cung, hoa nở muộn hơn, nhưng lại có một mùi hương hoang dã, đậm đà hơn cả hoa nơi cung cấm.
Không ngờ nay ta thật sự đã ngửi thấy mùi hương ấy rồi.
Mỗi khi ngắm trăng, Thái phi nương nương thường bất giác rơi lệ.
Chúng ta hỏi vì sao nương nương lại khóc, người luôn bảo là vì nhớ ca ca và tẩu tẩu.
Khi đó ta cứ ngỡ, là do nương nương nhập cung sâu tựa biển, khó lòng gặp lại người thân nơi quê nhà.
Mãi đến khi gả vào phủ Bối lặc, ta mới hiểu ra rằng ca ca và tẩu tẩu của người đã vĩnh viễn tan vào cát bụi nơi biên ải.