Từ thư phòng của Tiết Kỳ đi ra, Hoài Tịch cảnh giác tiến lại đón, hỏi nhỏ:
“Thế nào rồi, cô nương?”
Khương Ly đi xa vài bước mới đáp:
“Là chuyện của Cao Huy. Tin tức truyền về lúc giữa trưa, Cao Tòng Chương đã dẫn người đi tới dưới chân núi Minh Hoa rồi. E là hắn đã bị thương nặng, khó qua khỏi.”
Hoài Tịch mừng rỡ reo lên:
“Quả nhiên là thành công rồi!”
Trời đã sẩm tối, ánh đèn trong phủ sáng rực, song sắc mặt Khương Ly chẳng có lấy nửa phần vui mừng:
“Cao Huy vốn đuối lý, chuyện này chẳng thể đưa ra công khai. Nhưng xảy ra việc như vậy, Cao gia tuyệt đối sẽ không dễ bỏ qua. Tiểu sư phụ lại xuất hiện trước mặt hộ vệ của hắn, hai người ấy đều là người trong giang hồ, e rằng đoán ra thân phận của tiểu sư phụ chẳng khó đâu——”
Hoài Tịch nghe xong liền biến sắc:
“Vậy thì tình cảnh của các chủ chẳng phải nguy hiểm rồi sao?”
Khương Ly chậm rãi bước:
“Tiểu sư phụ đã thoát thân, hẳn là không có gì đáng ngại. Nhưng hắn lộ diện trước mặt người ta, Cao gia ắt sẽ hợp cùng Củng Vệ ty tra xét việc này, chưa biết chừng còn âm thầm tấu lên bệ hạ. Hắn càng hành sự vô úy, việc trợ giúp Thẩm thị lật án lại càng khó hơn…”
Hoài Tịch bĩu môi nói:
“Theo ý nô tỳ thấy, dù các chủ có ngoan ngoãn yên phận thì vụ án này cũng chẳng dễ mà lật. Nếu lật được, chẳng phải là nói hoàng đế năm đó làm sai ư? Hoàng đế vốn đã hận các chủ đến tận xương tủy, sao có thể tự nhận mình sai? Huống hồ các chủ còn giết mấy tên quan lại triều đình, lúc đó chẳng phải sẽ bị bắt giam hay sao?”
Hoài Tịch xuất thân giang hồ, chẳng kính trọng gì lễ nghi triều đình. Khương Ly nghe mà trong lòng ngổn ngang trăm mối:
“Những vụ án đã ‘đóng nắp quan tài’ từ lâu, muốn lật lại vốn cực kỳ khó. Nếu không tìm ra nhân chứng, vật chứng trọng yếu, thì tuyệt không có cơ hội khiến bệ hạ thừa nhận sai lầm năm xưa. Dù là vụ của tiểu sư phụ hay của nghĩa phụ, đều như nhau cả. Nay Cao Huy gặp nạn, việc lật án tạm gác, chỉ sợ họ lại sẽ hành động như khi Tần gia xảy ra chuyện năm ấy — một phen lùng bắt rầm rộ. Một là tiểu sư phụ nguy trong sợi tóc, hai là có thể liên lụy đến Ngu thị.”
Hoài Tịch ngẩng đầu nhìn sắc trời:
“Nếu các chủ chưa về Trường An, thế nào cũng nên gặp cô nương một lần. Nhưng ở Minh Hoa sơn không đến, liệu có phải đã trở lại rồi chăng? Còn Ngu cô nương bên đó, chỉ đành xem khi ấy nàng có sơ hở gì hay không thôi.”
Khương Ly đành nói:
“Đêm nay cứ chờ thử xem.”
…
Sau khi trở về Doanh Nguyệt Lâu, Khương Ly lại chỉnh sửa phương thuốc cho Giản Hiền. Nay tiết xuân ấm áp, nàng đã định thi châm cho Giản Hiền, song bệnh tình của bà đặc biệt, nàng không dám khinh suất.
Định xong phương, Khương Ly vẫn còn ngồi chờ đến tận canh tư. Ngoài cửa sổ tĩnh lặng không chút động tĩnh, nàng mới hiểu Thẩm Độ sẽ không tới nữa. Nghĩ đến sáng mai còn phải nhập cung chẩn mạch cho Cảnh Đức đế, nàng đành đi nghỉ trước.
…
Chiều ngày mười tám, Khương Ly tuân lệnh tới Thái Cực điện trước giờ Dậu.
Nhưng vừa đến cửa điện, đã thấy Ninh Quắc và Vu Thế Trung đứng chờ ngoài cửa. Hai người mắt nhìn mũi, mũi nhìn tâm, chẳng dám thở mạnh. Khương Ly đang ngờ vực thì trong điện vọng ra tiếng quát trầm giận của Cảnh Đức đế.
Nàng lòng thắt lại, bước chân cũng khẽ chậm đi.
Ninh Quắc là người đầu tiên thấy nàng, rồi Vu Thế Trung bước lên nói nhỏ:
“Cô nương đến rồi. Hôm nay e phải đợi, chờ bệ hạ gặp xong mấy vị đại nhân đã.”
Khương Ly gật đầu, lại lo lắng nói:
“Bệ hạ còn mang bệnh, chẳng thể nổi giận lớn như vậy.”
Vu Thế Trung khẽ cười khổ:
“Ai cũng biết điều đó, nhưng nay bệ hạ đang nổi cơn thịnh nộ, chẳng ai dám khuyên can.”
Lời vừa dứt, trong điện lại vang lên vài tiếng “xin tội”. Khương Ly nín thở lắng nghe, dường như nghe được giọng Bùi Yến, trong lòng lấy làm kỳ quái. Vu Thế Trung cũng nhận ra âm thanh bất thường, liền vội vàng vào trong điện.
Đợi ông ta đi rồi, Ninh Quắc mới ghé lại gần, nói khẽ:
“Là vụ án tà giáo xảy ra chút trục trặc. Tên Diêu Chương hành sự quá cứng rắn, giờ đến sư huynh ta cũng bị vạ lây.”
Khương Ly thấp giọng hỏi:
“Chuyện gì vậy?”
Ninh Quắc đáp:
“Vài ngày trước chẳng phải điều tra được rằng phu nhân của Thự Lệnh Nỗ phường quân khí giám có giao tình với Trình đại tẩu sao? Những ngày này chúng ta đi điều tra quanh chùa Tướng Quốc và Phan phủ, quả thật chứng thực lời Tiểu quận vương nói. Vị Phan phu nhân ấy vốn mắc bệnh lâu năm, một năm trước khi đi hái thuốc ở sau núi chùa Tướng Quốc bị rắn cắn, may được Trình đại tẩu đi cùng cứu giúp. Đó là ơn cứu mạng, Phan phu nhân tặng bạc mà Trình đại tẩu không nhận, từ đó hai người tuy thân phận chênh lệch nhưng lại kết giao, cũng vì vậy mà Phan phu nhân mới giới thiệu cho nàng ta cái gọi là ‘Chân Thần’.”
“Phan phu nhân đã khai rồi ư?”
Ninh Quắc gật đầu:
“Hôm ấy nhận được tin từ Tiểu quận vương, ta liền đến hỏi người hầu trong Phan phủ, xác nhận mối giao tình giữa hai người rồi mới báo lại cho Diêu Chương. Tên này hành sự nhanh nhẹn, ngay tối hôm đó đã dẫn người đến Phan phủ bắt đi cả phu phụ Phan Tú Thành, đưa về Củng Vệ ty thẩm tra. Hai ngày qua trên dưới đều tra hỏi kỹ, cơ bản đã xác định được — Phan phu nhân quả thật bị lừa gạt mà sa vào đó.”
Khương Ly căng thẳng hỏi:
“Có chắc là Vô Lượng đạo không?”
Ninh Quắc thở dài:
“Vẫn chưa hỏi ra được. Phan phu nhân nói là mình nhập đạo từ một thương nhân họ Dư, người Giang Nam, bán tơ lụa. Ban đầu vì bệnh lâu ngày không khỏi, bà ta bệnh đến cuống quýt nên mới tin lời hắn. Nhưng điều kỳ lạ là từ khi tin theo vị thương nhân này, bệnh tình của bà ta quả nhiên có phần thuyên giảm, nên bà tin là thật.”
Khương Ly kinh ngạc:
“Chuyện đó sao có thể?”
Ninh Quắc nhún vai:
“Chúng ta cũng thấy không thể nào. Nhưng phu phụ họ Phan bị thẩm vấn mấy lượt, lời khai vẫn thống nhất, chẳng giống giả dối. Bà ta lập bàn thờ trong phòng, ban đầu chỉ cúng bái ‘Thiên Tôn’ như người đời lễ Phật cầu đạo, sau đó thương nhân kia thấy bà ta thành tâm, mới dạy cách phụng thờ, chẳng qua là cho mấy bùa linh phù nước thánh gì đó, lại thu chút tiền bạc, dặn không được truyền cho người khác. Ông Phan Tú Thành thấy bà mê tín, cũng mặc kệ, vì bà ta đau ốm đã lâu, miễn là bình yên thì thôi. Cả hai vợ chồng đều chẳng biết cái gì là Vô Lượng đạo hay Hữu Lượng đạo.”
Khương Ly vội hỏi:
“Vậy còn thương nhân họ Dư kia đâu?”
Ninh Quắc khẽ hất cằm, ý nói về phía trong điện:
“Chạy rồi. Hắn quả thật từng buôn bán, nhưng toàn bộ thân phận đều là giả, ngay cả gia nhân cũng là thuê mua hơn năm nay. Bệ hạ tức giận chính vì chuyện này.”
Khương Ly thất vọng thốt lên:
“Sao lại để hắn chạy thoát được?”
Ninh Quắc bĩu môi:
“Vốn ta không định nói với Diêu Chương, nhưng nghĩ hắn là người phụ trách vụ án, ta lại mới nhận chức, nên vẫn phải báo. Ai ngờ vừa nghe xong, hắn lập tức bắt toàn bộ người nhà họ Phan, gây động tĩnh lớn, chắc thương nhân kia đã được báo tin, đêm hôm ấy đã rời thành rồi. Manh mối tốt như vậy, cứ thế đứt đoạn.”
Khương Ly cau mày hỏi:
Dịch và biên tập bởi Rừng Truyện!!!
protected text
Ninh Quắc bất đắc dĩ nói:
“Thực ra cũng chẳng liên quan gì. Chỉ là đêm hôm trước, khi chúng ta lùng bắt tên thương nhân họ Dư, thì sư huynh lại ra khỏi thành. Suốt một đêm không thấy bóng dáng, đến sáng hôm sau trở về mới hay manh mối bên này đã bị cắt đứt. Bệ hạ biết chuyện, lại nhớ đến việc mấy hôm trước, nên giận lây sang hắn. Đại Lý tự vốn chỉ tham gia hiệp tra, giờ cũng phải chịu ít nhiều khiển trách.”
Trong lòng Khương Ly dấy lên vài phần nghi hoặc:
“Đêm trước ra khỏi thành ư?”
Ninh Quắc đáp:
“Nghe nói là đi thăm lão Quốc công gia.”
Bùi Uyên – lão Bùi Quốc công – vốn ở ngoài thành tu dưỡng tĩnh dưỡng, Bùi Yến đúng là thường lui tới thăm viếng, Khương Ly hiểu ra, khẽ thì thầm:
“Xem ra bệ hạ vẫn chưa nguôi giận…”
Lời vừa dứt, cửa điện từ trong mở ra, Diêu Chương – đôi mày kiếm, ánh mắt lạnh lùng – bước ra đầu tiên.
Ninh Quắc thấy thế liền đón hỏi:
“Bệ hạ nói sao rồi?”
Diêu Chương đáp gọn:
“Về nha môn rồi nói.”
Dứt lời, hắn quay gót đi thẳng. Ninh Quắc nhìn Khương Ly một cái, đành vội vàng theo sau.
Bùi Yến đi chậm hơn một bước, ánh mắt hai người thoáng chạm nhau.
Khi ấy Vu Thế Trung cũng đi ra, nói:
“Đại tiểu thư, có thể vào chẩn mạch cho bệ hạ rồi.”
Khương Ly chỉ đành bước vào trong điện.
…
Vào đến nơi, vừa định hành lễ, Vu Thế Trung tiến lên khẽ nói nhỏ mấy câu.
Khương Ly nghe xong thì yên lòng, mỉm cười đáp:
“Thế thì tốt quá rồi.”
Nàng vòng qua bình phong, đi tới phía cửa sổ tây, hành lễ xong mới bắt mạch cho Cảnh Đức đế.
Hoàng đế vừa để nàng chẩn mạch, vừa ôn hòa hỏi:
“Trẫm nghe Giang Lăng quận vương nói, trước đây ngươi từng cứu mạng hắn?”
Khương Ly thoáng sững, vội đáp:
“Không dám nói là cứu mạng. Khi ấy tiểu quận vương bệnh phát đột ngột, thần nữ chỉ vừa khéo ở gần đó mà thôi.”
Cảnh Đức đế trầm ngâm:
“Trẫm nghe nói y thuật của ngươi rất giỏi. Chỉ dạy cho mấy y nữ, chẳng phải là uổng phí tài năng sao?”
Khương Ly cúi đầu, lui hai bước, đáp khẽ:
“Thần nữ không dám.”
Hoàng đế khẽ thở dài:
“Ngươi không cần quá khẩn trương. Tài nghệ của ngươi, trẫm đều nhìn thấy. Cũng khiến trẫm chợt nhớ, những năm gần đây trong thành Trường An hiếm có y giả trẻ tuổi giỏi nghề, mà nữ y thì lại càng ít. Hôm qua Quảng Ninh bá vào cung, có nhắc đến ngươi, còn nói con gái ông ta từng bệnh nặng, suýt mất mạng, cũng là nhờ ngươi mà cứu sống.”
Khương Ly nghe vậy liền rũ mắt. Quách Thục Dư năm ấy vốn là giả bệnh, nàng nào dám nhận công lao này.
Cảnh Đức đế thấy nàng khiêm tốn, lại cười nói:
“Giờ ông ta đang quản Thái Thường Tự, mà Thái y thự cũng nằm dưới quyền. Dù ông ta chẳng am hiểu y đạo, nhưng bảo rằng trong Thái y thự nay người kế nghiệp thưa thớt, học sinh khó qua khảo hạch, đặc biệt là về châm đạo.”
Khương Ly ngẩng đầu nhìn Ngài:
“Bệ hạ là muốn nói…”
Cảnh Đức đế khẽ cười, thần sắc ôn hòa, trong mắt ánh lên vài phần hiền hậu.
Vu Thế Trung đứng bên tiếp lời:
“Đại tiểu thư chưa biết, bệ hạ hỏi qua Thục phi nương nương, nương nương nói rằng đại tiểu thư dạy đám y nữ rất tận tâm. Mới hơn một tháng mà tay nghề họ đã tiến bộ rõ rệt. Còn Thái y thự hiện có ba mươi học sinh ngành châm, mà chỉ có một vị tiến sĩ dạy môn này. Ông ấy tuổi cao bệnh nặng, sức lực chẳng còn bao nhiêu, nên từ đầu năm ngoái đã phải nhờ đám trợ giáo phụ dạy. Nhưng mỗi vị Thái y lại có cách hành châm riêng, học trò bị chia ra mỗi người học một kiểu, chẳng đúc kết được, việc học chẳng sâu, lại thêm bài vở nặng nề, thành ra oán than không ngớt.”
Vu Thế Trung nói tới đây cũng khẽ thở dài, rồi tiếp:
“Những năm trước, Thái y thự từng mời không ít danh y trong dân gian về làm khách khanh, tiến sĩ. Nay tài châm của đại tiểu thư chẳng thua gì các ngự y lớn tuổi, nếu người chịu truyền dạy, bệ hạ tất chẳng nỡ để người phải khuất tài.”
Đôi mắt Khương Ly sáng rực, nhìn thẳng vào Cảnh Đức đế:
“Bệ hạ… chuyện ấy là thật sao?”
Hoàng đế nhìn ra nàng rất mong muốn, bèn mỉm cười:
“Quân vô hí ngôn. Có điều, triều ta không có lệ cho nữ tử làm quan. Trẫm có thể ban cho ngươi quyền dạy học, nhưng không thể phong tước vị y quan. Ngươi có bằng lòng chăng?”
Khương Ly xúc động không kiềm được, giọng run run:
“Thần nữ nguyện ý, không cầu danh vị, chẳng cần bổng lộc.”
Cảnh Đức đế ánh mắt rạng lên mấy phần tán thưởng:
“Nữ tử mà có chí như thế, thật đáng quý. Nhưng trẫm sẽ không để ngươi lao khổ vô ích. Những khoản tục tu và bổng lộc cần có, đều sẽ không thiếu. Như vậy đi, trẫm sẽ cho người tới Thái Thường Tự một chuyến, để Quảng Ninh bá và Kim Vĩnh Nhân sắp xếp việc này. Với thân phận của ngươi, cũng chẳng cần giảng dạy hàng ngày như thường lệ, chỉ cần nửa tháng một lần là được. Chuyện này trẫm chưa bàn với phụ thân cùng cô cô ngươi, vì trẫm thấy ngươi cũng chẳng phải người nghe lời họ đâu.”
Khương Ly nghe trong lời nói có ý trêu chọc, khẽ cúi người hành lễ, đáp:
“Thần nữ tuân mệnh.”
Vu Thế Trung lập tức sai tiểu thái giám đi truyền chỉ.
Xong xuôi, ông ta lại hầu hạ Cảnh Đức đế nằm xuống long sàng.
Khương Ly cố nén niềm phấn khởi trong lòng, điều tức một hơi, rồi mở kim nang, tỉ mỉ châm cứu cho bệ hạ.