“Vâng ạ!” Rồi lại lẩm bẩm, “Không biết năm nay thư viện làm sao, cả sâu bọ lẫn chuột đều sinh nhiều. Mấy tháng trước ngay nhà bếp cũng bị hại, bao nhiêu gạo thóc đều hỏng cả.”
Thư viện Bạch Lộ Sơn rộng rãi, dược phòng nằm ở phía đông Thính Tuyền Hiên, cách bếp không xa, có tường riêng bao quanh.
Dọc đường lát đá xanh, Khương Ly đi vừa ngẫm nghĩ:
“Đúng là không hợp lẽ thường.”
Trương Tuệ Nhi hỏi:
“Cô nương nói sao?”
Khương Ly liền giải thích:
“Loại côn trùng mà Lỗ công tử nói đến, nếu ta đoán không lầm, là mặc văn — một loài muỗi độc chỉ sinh trong nơi ẩm thấp, mát râm. Nhưng loại này chỉ phát sinh khi tiết trời ấm, vào giữa xuân mới nhiều. Nay núi còn giá, hơi lạnh còn dày, dù rừng phía sau có chút ẩm, cũng không đến nỗi hóa tai họa.”
Trương Tuệ Nhi gãi đầu:
“Gia gia ta cũng nói thế. Bảo loài này năm nào cũng chỉ có ở chuồng ngựa, rừng trúc hay ven hồ sau núi. Vậy mà năm nay lại bò cả vào học xá, thật chẳng hiểu vì sao.”
Khương Ly gật đầu, trong lòng mơ hồ có linh cảm.
Đến dược phòng, thấy một lão nhân tóc hoa râm đang phơi dược liệu dưới hiên.
Trương Tuệ Nhi nhanh miệng gọi:
“Hà thúc, đây là Tiết cô nương, danh y Trường An. Nàng đến chữa bệnh cho lão tiên sinh, nay lại muốn chế thuốc bôi trị vết côn trùng cắn, phiền thúc mở cửa dược phòng.”
Hà Cảnh Bách vội đáp, lấy chìa khóa mở cửa tây sương.
Trương Tuệ Nhi lại nói:
“Hà thúc, cô nương tự làm thuốc, thúc cứ lo việc của mình đi.”
Hà Cảnh Bách gật đầu, vừa đi vừa than:
“Mưa dầm hai hôm, đám hoàng tinh ta mới hái đều mốc cả rồi.”
Sau khi ông ta rời đi, Trương Tuệ Nhi nói nhỏ:
“Hà thúc hơn năm mươi tuổi, vốn là dược nông dưới chân núi. Sau mùa màng thất bát, thê tử lại bệnh, liền xin việc ở đây. Ông hiểu chút dược lý, ngoài trông dược phòng còn tự lên núi hái thuốc, dược trong viện có nửa là ông tự tìm được, tiết kiệm không ít.”
Khương Ly gật đầu, rồi cầm bút thảo phương.
Nàng chọn vài vị như bạch chỉ, hoàng bá, ngải diệp, tán nhuyễn trong cối, thêm dầu mè và mật điều chế.
Qua nửa canh giờ, một hũ thuốc mỡ thanh hương mát lạnh đã xong.
Ra khỏi dược phòng, vừa định đi tìm Lỗ Lâm, chợt thấy Cung thẩm từ phía nhà bếp đi đến, cười nói:
“Ôi, cô nương ở đây à! Không biết cô nương muốn dùng cơm ở đâu? Ta cho người đưa tới U Hoàng quán được chăng?”
Khương Ly cười đáp:
“Tùy thẩm sắp đặt, ta sao cũng được.”
Cung thẩm cười hiền:
“Theo lý hôm nay phải làm tiệc đón tiếp cô nương và Bùi đại nhân, nhưng trong cảnh này ai còn lòng dạ tiệc tùng. Khách quan ở Thính Tuyền Hiên, Bùi đại nhân nói sẽ ăn tại giảng đường, còn phần của cô nương ta đưa đến U Hoàng quán, nơi đó yên tĩnh, khỏi bị quấy rầy. Ta đi chuẩn bị đây.”
Nói rồi bà ta rảo bước rời đi.
Khương Ly xách thuốc, cùng Trương Tuệ Nhi ra khỏi viện, tính tìm Lỗ Lâm, nhưng đi đến tiền viện thì thấy nhóm học sinh đã tụ cả trong nhà ăn.
Từ xa, Trương Tuệ Nhi nhận ra bóng lưng Lỗ Lâm, liền nói:
“Cô nương, Lỗ công tử cũng đi ăn rồi.”
Khương Ly gật đầu:
“Vậy đưa thuốc đến cho hắn trước, rồi ta trở về U Hoàng quán.”
Ba người men theo lối lát đá, vừa đến cửa nhà ăn đã nghe tiếng nói chuyện vọng ra, xen lẫn tiếng bát đũa khua:
“Giờ xảy ra chuyện thế này, không biết kỳ xuân thí có còn tổ chức không, thật chẳng còn tâm trí học hành.”
“Không thi thì ôn thêm cũng tốt, chẳng lẽ sợ học nhiều?”
“Cũng phải. Mà các ngươi xem hôm nay món ăn khá hơn rồi, có thịt xông đấy! Ta ăn trước nhé.”
“Thịt này thơm thật, mấy hôm tắm đều ngửi thấy mùi ấy. Hôm nọ sáng sớm còn thơm đến mức ta suýt nuốt lưỡi. Có câu ‘Sương đao tước hạ hoàng thủy tinh, nguyệt phủ trác xuất hồng tùng minh’,thịt thế này mà thêm đôi càng cua nữa, thật là ‘Thế gian chân hữu Dương Châu hạc’! Nếu để uổng thì tội biết bao.”
“Ha, không hổ là Khổng Dụ Thăng, ngay ăn cơm cũng phải ngâm thơ.”
Mấy người cười ồ, không khí trong nhà ăn cũng bớt u buồn.
Khương Ly đứng ngoài hiên, để Trương Tuệ Nhi gọi Lỗ Lâm ra, đưa hũ thuốc:
“Lúc nãy Khổng Dụ Thăng nói trong phòng tắm ngửi thấy mùi thịt muối, là thế nào?”
Trương Tuệ Nhi cười:
“Cô nương không biết đấy, thịt muối năm ngoái mua về còn là thịt sống, chưa hun khói hết. Nhà bếp chật, treo không đủ chỗ nên đem sang phòng tắm treo. Nơi ấy có năm bếp lớn đun nước, hơi nóng hong thịt mau khô, giữ được cả năm. Chỉ phải cẩn thận chuột thôi.”
Khương Ly khẽ gật:
“Thì ra là vậy.”
Dùng cơm xong, đến gần giờ thân, nàng cùng Trương Tuệ Nhi đi về phía tây — nơi có chuồng ngựa của thư viện.
Chuồng ngựa nằm gần Tây môn, cách U Hoàng quán không xa. Hai người đi qua lối nhỏ rợp bóng du liễu, chẳng bao lâu đã đến nơi.
Giữ ngựa là một trung niên tầm hơn bốn mươi, gù lưng nhưng tay chân còn lanh lợi, đang ôm bó cỏ to.
Trương Tuệ Nhi tươi cười chào:
“Từ thúc, đã dùng cơm chưa?”
Từ Vạn Hữu đặt bó cỏ xuống, lau tay:
“Dùng rồi, Tuệ Nhi đến có chuyện gì chăng?”
“Có khách quý, ta dẫn đến thăm một vòng.”
Từ Vạn Hữu mỉm cười:
“Là đến xem ngựa à? Cô nương cứ yên tâm, tuy một mình ta trông coi nhưng không dám lơ là chút nào.”
Chuồng và nhà ngựa nối liền nhau, xe ngựa của Khương Ly vẫn đỗ ở hiên phía nam, ngựa đang cúi đầu ăn cỏ.
Khương Ly cười ôn hòa:
“Không phải đến kiểm tra đâu, ta chỉ muốn hỏi — hôm nay thúc có bị côn trùng đốt không?”
Từ Vạn Hữu buông bó cỏ, ngơ ngác hỏi:
“Côn trùng độc? Ý cô nương là ruồi muỗi gì đó à?”
Khương Ly lại hỏi:
“Thúc từng nghe đến mặc văn chưa?”
Từ Vạn Hữu giật mình:
“Biết chứ, biết! Chính là loại muỗi đen, nhỏ, trông bình thường mà đốt người thì ngứa và sưng ghê gớm phải không? Loài ấy chỉ xuất hiện khi trời vào hạ, dạo này thì không có đâu. Cô nương hỏi vậy là sao?”
Khương Ly cau mày:
“Vậy là những năm trước, chỉ sau khi nhập hạ mới có?”
Từ Vạn Hữu gật đầu chắc nịch:
“Đúng vậy, chỉ cần thường xuyên quét dọn sạch sẽ thì thứ đó không sinh được. Chuồng ngựa này khô ráo, chẳng ẩm ướt bao giờ.”
Lời nói cùng dáng vẻ của ông cho thấy người này quen biết rõ tập tính của loài muỗi ấy. Hai cánh tay và cổ ông lộ ra, da dẻ bình thường, không thấy mẩn đỏ hay sưng tấy.
Khương Ly lại đảo mắt nhìn quanh chuồng ngựa, xác nhận quả thực sạch sẽ, mới gật đầu:
“Không có gì, ta hỏi vậy thôi, không làm phiền thúc nữa.”
Từ Vạn Hữu vẫn ngạc nhiên, cúi đầu tiếp tục cho ngựa ăn.
Ba người Khương Ly, Hoài Tịch và Trương Tuệ Nhi rời khỏi đó, men theo lối cũ quay lại.
Đi được vài bước, Hoài Tịch thắc mắc:
“Cô nương, chuồng ngựa không có độc trùng, chẳng lẽ thứ đó ẩn thân giỏi đến thế sao?”
Khương Ly trầm giọng:
“Mặc văn ở phương Nam còn gọi là ‘tiểu giảo’ – thân nhỏ, cánh ngắn, bay không phát tiếng. Chúng thích bóng râm, hoạt động khi chạng vạng hoặc đêm xuống, nên rất khó phát hiện. Tuy nhiên, mặc văn lấy máu làm thức ăn, ưa mùi tanh ngọt, đặc biệt thích nhân huyết hơn thú huyết. Nếu gần đó có người, ắt sẽ đốt người trước tiên.
Nay Từ thúc không hề bị đốt, chứng tỏ chuồng ngựa tuyệt không có loại muỗi ấy.”
Nói đoạn, nàng khẽ cau mày:
“Hơn nữa, mặc văn sinh sản chậm, phạm vi bay hẹp, thường chỉ trong một hai gian phòng. Nếu nơi đó không có máu người hoặc đã dùng ngải diệp hun khói, chúng rất mau chết sạch. Vì vậy học xá ở phía bắc tuy từng có, song không hề lan sang nơi khác.”
Hoài Tịch chau mày:
“Vậy có nghĩa là chúng chỉ sinh ra trong thư viện, mà lại chỉ ở hai gian phía bắc ấy thôi sao? Phía sau dãy học xá chẳng phải đều là rừng gỗ cả ư?”
Khương Ly trầm giọng:
“Chính điều ấy mới khó hiểu. Các nơi khác ẩm thấp, dễ sinh muỗi hơn, lại không thấy bóng dáng chúng. Tuệ Nhi, ta muốn đi xem thêm vài chỗ nữa.”
Trương Tuệ Nhi gật đầu:
“Đi hồ Quân Tử chăng, hay qua rừng trúc?”
Khương Ly đáp:
“Muỗi thích nơi có vật thối rữa. Đi xem tất cả các chỗ trong viện từng có côn trùng.”
Trương Tuệ Nhi liền chỉ hướng đông bắc:
“Phía ấy có một rừng trúc, ta dẫn cô nương tới trước.”
Ba người men theo lối đá xanh đi tới.
Rừng trúc gió lộng, lá xào xạc, thoạt nhìn chẳng có gì khác thường.
Vào trong, chỉ thấy lác đác vài con muỗi nhỏ, song không phải mặc văn.
Đi một vòng cũng không phát hiện gì, lại tiếp tục tiến về phía hồ Quân Tử.
Nhưng đi quanh hồ, chỉ thấy vài con bươm bướm chấm trắng cùng đàn muỗi nước, tuyệt không có mặc văn.
Trương Tuệ Nhi nghĩ ngợi rồi nói:
“Còn khu nhà xí lớn, sau đó có rừng trúc thấp, chắc dễ sinh côn trùng.”
Lời nói có lý — nơi nhiều chất thải, lại rợp trúc thấp, dễ ẩm mốc.
Ba người men rừng tới nhà xí đại, nơi dành cho học sinh.
Đến nơi, Trương Tuệ Nhi vội che mũi:
“Cô nương đừng chê mùi nặng.”
Khương Ly cũng khẽ che mũi, theo nàng vòng ra sau.
Rừng trúc nơi ấy thấp hơn, đất trũng, mưa mấy ngày chưa khô, ruồi nhặng lượn quanh, muỗi bay đầy, nhưng đều là loài thông thường — chẳng có dấu vết mặc văn.
Hoài Tịch nhíu mày:
“Có lẽ phải đợi đêm xuống chúng mới ra?”
Khương Ly lắc đầu:
“Mặc văn tuy sợ ánh sáng, nhưng trời hôm nay u ám, ánh sáng yếu, chúng đã có thể ra kiếm ăn. Nếu có ở đây, chắc chắn ta đã thấy.”
Trương Tuệ Nhi bóp trán:
“Thế thì ta chịu, không nghĩ ra nơi nào khác có chúng.”
Khương Ly im lặng giây lát, rồi nói dứt khoát:
“Đi về phía học xá.”
Nàng sải bước đi trước, dọc đường quan sát kỹ địa thế.
Phía nam dãy học xá thấp trũng, nước mưa còn đọng trong máng xối sau hiên.
Hoài Tịch nhìn mà nói:
protected text
Bước chân Khương Ly càng lúc càng nhanh.
Bạn đang đọc truyện tại rungtruyen.com. Chúc vui vẻ!!!
Trở lại sau nhà Phó Hoài Cẩn và Viên Diễm, chỉ thấy đầy lá khô và bùn đất, ngoài ra trống trơn.
Rừng ấy ẩm nhưng không nặng mùi tanh ngọt, không có gì khiến mặc văn sinh trưởng.
Khương Ly khẽ nói:
“Sự việc dị thường, tất có yêu tà.”
Nói xong, nàng vén áo, đi thẳng về phía đại giảng đường.
Đến nơi, thấy trong sảnh có bốn học sinh đang bị Bùi Yến tra hỏi, ánh mắt hắn sắc bén khiến ai nấy đều thấp thỏm.
Trương Tuệ Nhi ghé tai nói nhỏ:
“Là mấy người từng đánh nhau với Phó Hoài Cẩn đấy.”
Trong sảnh, bốn người đứng hàng: hai thiếu niên mới mười hai mười ba, hai người sau tầm mười bảy mười tám, dáng gầy, da sạm.
Người cao nhất mặc áo vàng, mày dài mắt hẹp, vẻ mặt cương nghị, đang lớn tiếng nói:
“Bẩm đại nhân, chúng ta tuyệt không nói dối! Chuyện ấy, trong thư viện ai cũng biết, Lâm tiên sinh từng cảnh cáo họ, nhưng vô ích. Chúng ta tới đây vì kính ngưỡng danh tiếng sơn trưởng, học đạo ‘lập thân, đôn phẩm, dưỡng tính’; vậy mà bọn họ học hai năm vẫn không hiểu, chẳng qua là do tâm tính hư hỏng mà thôi!”
Nói xong, hắn hơi cúi đầu, mắt vẫn sáng quắc:
“Xin đại nhân thứ tội. Tấm biển sau ngài đề bốn chữ ‘Thực sự cầu thị’, đó cũng là điều sơn trưởng dạy chúng ta. Tại hạ chỉ vì uất ức mà nói thẳng.”
Giọng hắn cứng rắn mà đầy chính khí, khiến Khương Ly thoáng nhìn, trong mắt có tia tán thưởng.
Trương Tuệ Nhi thấp giọng:
“Người nói là Hạ Bính Chí, mười chín tuổi. Bên cạnh là Hồ Tu Văn, mười tám. Hai người phía trước, một là Đào Cảnh Hoa, mười ba tuổi, còn lại là Giang Kỳ, cũng đồng niên. Cả bốn đều là người phương Nam, mới đến học mùa này nên thân thiết với nhau.”
Khương Ly gật đầu, nhìn lại Bùi Yến — hắn không nổi giận, chỉ thong thả hỏi:
“Ngươi bất mãn với Phó Hoài Cẩn cùng nhóm thế gia tử, vậy đêm hai mươi tám và hai mươi chín, các ngươi làm gì?”
Hạ Bính Chí đáp:
“Đêm hai mươi tám, bọn ta đọc sách đến giờ sửu, sấm đánh liên miên, khó ngủ, nhưng sau đó cũng thiếp đi. Trong lúc ngủ mê man, có tỉnh dậy hai lần, song chỉ chốc lát rồi lại ngủ, đến sáng mới dậy. Đêm hai mươi chín cũng vậy, giữa đêm có tỉnh, nhưng chẳng ai dám ra ngoài giữa trời mưa.”
Bùi Yến cau mày:
“Đêm hai mươi tám sấm chớp dồn dập, trước giờ mão còn có sét lớn, các ngươi đều không bị đánh thức ư?”
Hạ Bính Chí gật mạnh:
“Phải! Vì chúng ta khi đó đã hai ngày không ngủ rồi.”
Bùi Yến nhướng mày:
“Không ngủ hai ngày, là vì sao?”
“Vì sắp đến kỳ xuân thí, chúng ta gắng ôn sách ——”
Hạ Bính Chí nghiến răng, nét khó xử thoáng hiện trên mặt:
“Chúng ta trước kia chỉ học ở phủ học, nơi đó các tiên sinh phần lớn là cử nhân, có người chỉ là tú tài, dạy bọn ta cũng coi như đủ. Nhưng khi đến Bạch Lộ sơn thư viện, mới thấy tài học của mình kém xa người khác. Hai tháng qua, chúng ta bị cười chê không ít. Kỳ xuân thí này là lần khảo đầu tiên, tuy biết chẳng thể đoạt đầu danh, song cũng không muốn cam chịu kém cỏi.
Từ đầu tháng hai đến nay, bọn ta thường xuyên thức trắng đọc sách, đêm hai mươi bảy càng là không chợp mắt phút nào, vậy nên đến tối hai mươi tám, sấm có lớn đến đâu cũng chẳng động nổi cơn buồn ngủ của chúng ta.”
Trong bốn người, Hạ Bính Chí tuổi lớn nhất, tự nhiên thành kẻ cầm đầu.
Hắn nói đến đâu, ba người còn lại đều gật đầu phụ họa đến đấy.
Bùi Yến ánh mắt trầm sâu, chậm rãi hỏi:
“Có ai khác có thể làm chứng cho lời các ngươi không?”
Hạ Bính Chí thoáng ngẩn:
“Bọn ta bốn người cùng ở một phòng, còn ai khác đâu? Chúng ta tự làm chứng cho nhau chẳng được sao? Phòng lại nhỏ, cửa gỗ cũ, mỗi lần mở ra đều ‘kẽo kẹt’ vang khắp dãy.
Nếu ai dậy giữa đêm, người khác ắt nghe thấy. Mà phòng bọn ta cũng chẳng đủ chỗ để giấu người. Phòng viện giám và đại nhân đều đã cho người tra qua, trong trận mưa lớn ấy, ai có thể ra ngoài giết người rồi quay lại giấu xác được?
Phòng ở tầng hai phía nam, ngoài hành lang có hai mươi gian liền, hễ có người ra vào chắc chắn bị phát hiện. Huống chi muốn hại người, cũng chẳng ai chọn cách vụng dại như vậy.
Ban ngày chúng ta luôn đi cùng nhau, đến phòng ăn hay nhà xí cũng ít khi tách riêng.
Vả lại, Phó Hoài Cẩn xưa nay không để bất kỳ ai trong chúng ta bước vào phòng hắn.”
Lời lẽ của Hạ Bính Chí vang vang, khí thế đường hoàng, mỗi câu đều khiến ba người bên cạnh gật rập đầu, hiển nhiên coi hắn là người dẫn đầu.
Bùi Yến không tỏ sắc giận, giọng vẫn đều:
“Thế còn người mà các ngươi hoài nghi thì sao?”
Cả bốn im lặng chốc lát.
Cuối cùng, vẫn là Hạ Bính Chí lên tiếng:
“Bọn ta đến đây chỉ để cầu học, thân cô thế cô, chẳng lý gì vì một trận xô xát nhỏ mà sinh ý hại người.
Chúng ta cũng biết thân phận của Phó Hoài Cẩn, lỡ phạm phải hắn, ở đất Trường An này há chẳng phải vạn kiếp bất phục?
Nếu nói có ai muốn hại hắn, e là những kẻ cùng hàng môn đệ, bằng vai phải lứa mới có tâm tranh chấp. Ta từng tận mắt thấy hắn cãi nhau với Tiết Trạm và Liễu Nguyên Gia.”
Bùi Yến hơi cau mày:
“Tiết Trạm và Liễu Nguyên Gia? Khi nào?”
Hạ Bính Chí mím môi, ngẫm giây lát:
“Hẳn là chuyện một tháng trước. Khi ấy, Phó Hoài Cẩn đến Bính tự học trai, nghe Tiết Trạm cùng Khổng Dụ Thăng luận việc, không rõ vì câu nào đó mà chen vào cãi vã.
Vốn Khổng Dụ Thăng với hắn chẳng ưa nhau, Tiết Trạm lại thân với Khổng Dụ Thăng, thế là to tiếng. Ta nghe hắn nói đến hai chữ ‘Long Dương’ chi đó…”
Nhắc đến đây, ánh mắt Hạ Bính Chí hiện chút chán ghét, thoáng nhìn Bùi Yến rồi nghiêm giọng:
“Còn với Liễu Nguyên Gia, là tại học xá. Nghe đâu Phó Hoài Cẩn động vào đồ riêng của Liễu công tử, khiến đối phương tức giận, hai bên lời qua tiếng lại, suýt nữa động thủ.”
Bùi Yến hỏi tiếp:
“Khi đó là lúc nào?”
“Chừng đầu tháng hai, đã hơn nửa tháng rồi.”
“Sau đó quan hệ thế nào?”
“Trên mặt thì hòa, dưới đáy thì không rõ.”
Bùi Yến chăm chú nhìn hắn:
“Còn gì khác thường nữa?”
Hạ Bính Chí do dự rồi nói:
“Ta thấy Phó Hoài Cẩn và Viên Diễm cũng lạ lắm. Nghe nói Viên Diễm là cháu tướng quân, vậy mà ngày nào cũng bị Phó Hoài Cẩn sai khiến, thái độ thấp hèn khác thường.”
Giọng Bùi Yến lạnh xuống:
“Ý ngươi là quan hệ của họ không trong sạch?”
Hạ Bính Chí đứng thẳng lưng, nghiêm mặt:
“Không dám. Văn sĩ trọng phong cốt, ta chỉ lấy làm khó hiểu — hai người địa vị tương đương, sao lại một kẻ cúi đầu, một kẻ ỷ thế như vậy.”
Bùi Yến liếc ba người còn lại:
“Các ngươi cũng nghe thấy thế sao?”
Ba người lưỡng lự, cuối cùng thiếu niên nhỏ tuổi nhất Giang Kỳ lí nhí:
“Thực ra… mọi người đều nghe qua.”
Bùi Yến khẽ gật:
“Được rồi, lùi xuống nghỉ đi. Nếu nghĩ ra điều gì, lập tức trình báo.”
Bốn người như được tha, cùng cúi đầu lui ra.
Vừa ra khỏi cửa liền thấy Khương Ly đứng ngoài hành lang, ai nấy biến sắc, cúi đầu lách qua, vội vã rời đi.
Khương Ly ngoảnh lại, nhìn theo bóng họ dần khuất; hai thiếu niên nhỏ tuổi Giang Kỳ và Đào Cảnh Hoa hoảng hốt đến nỗi quên cả lễ nghi, gần như chạy trối.
Ngay cả Hạ Bính Chí và Hồ Tu Văn cũng chẳng giữ được vẻ cứng cỏi ban đầu.
Nàng bước vào:
“Ngài đang hỏi chuyện đánh nhau?”
Bùi Yến gật đầu:
“Phải. Cả bốn đều là tân sinh năm nay.
Hạ Bính Chí người Vĩnh Châu, Giang Kỳ người Hoành Châu, Hồ Tu Văn người Cát Châu, Đào Cảnh Hoa người Ma Châu.
Hai đứa nhỏ mới mười ba tuổi, đường từ quê lên Trường An đi hơn tháng, thật chẳng dễ.
Từ khi nhập học, họ thân nhau, hai người lớn chăm hai đứa nhỏ.
Hôm động thủ là do Phó Hoài Cẩn tranh mất sách Đào Cảnh Hoa muốn mượn.”
Khương Ly gật:
“Nghe lời Hạ Bính Chí, chẳng giống giả.”
Trên án của Bùi Yến bày đầy lời cung, hắn lật mấy tờ:
“Ta cũng nghĩ vậy. Phòng của họ ta đã xem qua, cửa quả phát tiếng lớn, bốn người cùng ở, thật khó giấu giếm điều gì. Nhưng hắn nhắc đến Tiết Trạm và Liễu Nguyên Gia, trong khi hai người ấy khi ta hỏi lại nói quan hệ cùng Phó Hoài Cẩn thân thiết. Thật có chỗ mâu thuẫn. Còn cô, nửa buổi qua đi đâu?”
Khương Ly liền đem việc mặc văn nói rõ từ đầu chí cuối:
“Không thể nào tự nhiên chỉ hai gian ấy sinh độc trùng. Hoặc trong phòng có vật thối rữa, hoặc có người cố ý gây ra. Mà đúng hai gian đó, đáng lý phải là nơi có thể nghe rõ động tĩnh phòng Phó Hoài Cẩn nhất.
Vậy mà một bên chuyển đi, một bên ngủ say chẳng biết gì.
Thêm nữa, mặc văn ở đó đã có từ trước, nếu thật có kẻ làm, e rằng Phó Hoài Cẩn…”
Nàng không nói hết, song mọi người đều hiểu.
Bùi Yến hợp tập giấy, dứt khoát:
“Đi, gọi Phương viện giám mang chìa khóa. Chúng ta đến xem hai gian ấy.”
Phương Thanh Diệp đến rất nhanh, vừa mở khóa vừa nói:
“Tìm gì ở đây? Phòng Lỗ Lâm ta đã tra qua, còn dùng ngải diệp xông rồi, có gì khác đâu.”
Cửa mở, bên trong chất đầy giường chiếu, bàn ghế cũ, bụi phủ dày — một gian nửa như kho chứa.
Phương Thanh Diệp đứng ở cửa giải thích:
“Phòng này làm kho tạm, thừa đồ vật đều để đây. Bình thường khóa kỹ, chìa chỉ có ta giữ. Còn chuyện côn trùng, đã là tháng trước rồi.”
Bùi Yến hỏi:
“Trước kia ai ở đây?”
“Tô Thanh Hoài và Liêu Minh Thành.”
“Gọi họ đến.”
Trong khi đợi người, Bùi Yến cùng Khương Ly và Cửu Tư vào trong kiểm tra, chỉ thấy bụi mốc, chẳng có gì thối rữa.
Kế đó, họ sang phòng kế — nơi Lỗ Lâm từng ở.
Trong phòng nền gạch xanh, đồ đạc giản đơn, có dấu ẩm mốc ở góc đông tường.
Lỗ Lâm ở cửa buồn rầu nói:
“Chúng ta tìm khắp rồi, không thấy gì. Chỉ có mấy con muỗi nhỏ, chích đau như kim, không kêu không đậu, trốn kỹ vô cùng. Xông ngải xong cũng chưa hết, bèn dọn sang bên kia. Bên ấy ngủ mấy đêm lại chẳng sao, thật kỳ lạ.”
Cửu Tư cùng mấy người lục soát từng góc, nhà nhỏ chưa quá ba trượng vuông, chẳng mấy chốc đã xong.
Cuối cùng, Khương Ly chỉ nghe báo:
“Công tử, sạch sẽ cả, ngoài góc tường ẩm mốc ra, không thấy gì lạ, cũng chẳng có vật thối hay mùi máu.”