Tiết sang giữa tháng hai, xuân ý dần sâu, vạn vật cùng hòa điệu, Khương Ly theo lời hứa đến chẩn bệnh cho Giản Hiền.
Mấy hôm trước, thuốc cao dùng được nửa tháng đã có chuyển biến rõ rệt. Đến ngày mười hai, nhân khi Giản Hiền đang ngủ trưa, Khương Ly dẫn theo Hoài Tịch lặng lẽ bước vào Liễu Đình viện.
Phương ma ma đi nhẹ nói khẽ, dẫn hai người vào chính sảnh:
“Theo căn dặn của đại tiểu thư, khi ăn trưa lão phu nhân đã dùng thuốc cô nương bào chế. Nô tỳ vừa thử gọi, phu nhân ngủ rất say, đánh thức cũng không tỉnh.”
Dẫu vậy, cả ba vẫn đi đứng cẩn thận, chẳng dám gây tiếng động.
Vào tới nội thất, chỉ thấy sau rèm trân châu rủ xuống, Giản Hiền xõa tóc, mặc trung y, an tĩnh nằm trên chiếc bạt bộ tháp gỗ tử đàn phía bắc, dung nhan tuy hơi tái, song hơi thở điều hòa.
Khương Ly khẽ đến bên, chăm chú xem xét, rồi cúi người bắt mạch.
Bệnh của Giản Hiền vốn do bi thương quá độ mà phát, lại thêm nhiều năm lao bệnh, đã gần như thành chứng nan y. Nàng tập trung thần sắc, không bao lâu liền ra hiệu Hoài Tịch mở châm nang.
Phương ma ma khẽ hỏi:
“Cô nương định trị thế nào?”
Khương Ly đáp:
“Phu nhân tinh thần thất thường, là do tâm can hỏa thịnh, thần trí tán loạn, khí huyết mất điều. Phải lấy phép sơ can giải uất, kiện não điều thần. Vì người đã bệnh lâu, hôm nay là lần đầu thi châm, ta định thử phương pháp châm thích huyết.
Ba huyệt Nhân trung, Thiếu thương, Ẩn bạch đều thuộc Thập tam quỷ huyệt, danh xưng là Quỷ cung, Quỷ tín, Quỷ chí, có công hiệu khai khiếu tỉnh thần, tả hỏa trừ phiền, chích huyết xuất ra sẽ càng nhanh ổn thần, an tâm.”
Phương ma ma nghe vậy không khỏi lo lắng:
“Có khiến phu nhân tỉnh dậy không?”
Khương Ly khẽ lắc đầu:
“Xin ma ma yên tâm, ta đã tính kỹ.”
Phương ma ma tuy còn do dự nhưng vẫn tin lời nàng.
Chỉ thấy Khương Ly hạ châm rất nhanh, trong mộng Giản Hiền khẽ chau mày, song không tỉnh giấc. Một lát sau, nàng rút châm, ba huyệt đều rướm máu bằng hạt đậu nhỏ. Lau sạch huyết sắc, nàng lại châm tiếp các huyệt Tứ thần thông, Ấn đường, Nội quan, Thần môn, Thần đình, Thái xung, lấy phép bình bổ bình tả.
Trước sau chừng nửa canh giờ, châm pháp hoàn tất, mới lui ra ngoài.
Khương Ly dặn dò:
“Hôm nay khi phu nhân tỉnh lại, có thể sẽ thấy mệt, song đêm đến sẽ dễ ngủ hơn. Theo lý, phép châm nên ba ngày một lần, nhưng phu nhân bệnh lâu, ngũ tạng suy yếu, thuốc và châm đều nên tiến hành từ từ, cứ bảy ngày một lần là tốt. Ta sẽ đổi một phương mới, dùng thử trong một tháng xem hiệu quả ra sao.”
Phương ma ma gật đầu, lo lắng hỏi:
“Nếu thật hữu hiệu, bao lâu phu nhân mới nhận ra người thân?”
Khương Ly khẽ thở dài:
“Nếu thuốc và châm đều hợp, nhanh thì nửa năm, chậm thì hai ba năm. Dù vậy, có khỏi hẳn hay không, ta không dám hứa.”
Phương ma ma rưng đỏ mắt:
“Nô tỳ hiểu. Đại tiểu thư có hiếu tâm như thế, hết sức mà làm cũng là trời thương rồi.”
Khương Ly thấy bà sắp rơi lệ, bèn an ủi đôi câu rồi cáo lui.
Ra khỏi Liễu Đình viện, nàng đi thẳng về dược phòng trong phủ. Hoài Tịch theo sau, xách hòm thuốc, khẽ nói:
“Bệnh này nếu phải trị ba năm năm, cô nương đâu thể ở mãi nhà họ Tiết.”
Khương Ly trầm giọng:
“Phải. Vì thế ta càng phải dốc hết sức mới được.”
Vào dược phòng, gặp Tiết Thái đang cùng hai tiểu sai lấy thuốc. Thấy nàng đến, ông ta vội hành lễ.
Khương Ly hỏi:
“Ta đến lấy vài vị thuốc cho mẫu thân, các ngươi lấy thuốc cho ai vậy?”
Tiết Thái cười đáp:
“Là để gửi cho Nhị công tử. Dạo này thời tiết nóng lạnh bất thường, di nương sợ nhị công tử nhiễm phong hàn, nên bảo chúng ta chuẩn bị dược liệu thông dụng, kèm y phục tháng này gửi đi. Nhị công tử vốn định về, nhưng vì kỳ xuân thí của thư viện sắp đến, lão gia bảo cứ ở lại học viện, cần gì cứ gửi sang.”
“Đại tiểu thư yên tâm, học vấn của nhị công tử chẳng kém ai, thậm chí không thua kém Thế tử Bùi năm ấy. Sang năm xuân vi, người tự khắc sẽ thấy.”
Khương Ly ngoài mặt mỉm cười khen ngợi, trong lòng lại không mấy tin.
Ra khỏi dược phòng, Hoài Tịch tò mò hỏi:
“Vị nhị công tử này thật giỏi như vậy sao? Cả phủ đều nói chắc chắn sẽ đỗ đầu.”
Khương Ly khẽ hừ một tiếng:
“Có thể học khá thật, nhưng bảo rằng không thua Bùi Yến, thì ta chẳng tin nổi. Khi Bùi Yến ở tuổi hắn, đã làm phu tử trong thư viện rồi.”
Hoài Tịch cười trêu:
“Giờ cô nương lại chịu khen đại nhân Bùi rồi à?”
Khương Ly liếc nàng:
“Ta chỉ nói thật thôi.”
—
Việc Khương Ly chẩn bệnh cho Giản Hiền đã được Tiết Kỳ đồng ý.
Nghĩ tới nghĩ lui, sáng hôm sau nàng lại đến nhà họ Giản một chuyến. So với Tiết Kỳ, Giản Bá Thừa lại càng quan tâm đến em gái, chuyện này thế nào cũng nên để ông biết.
Đến nơi, Phương Toàn nhiệt tình kéo nàng ngồi xuống nói chuyện. Vì vụ án của Đoạn Phối gây chấn động triều đình, bà hứng khởi hỏi thăm tin tức giữa Túc vương và Thái tử gần đây.
Khương Ly chỉ nói những gì mình biết, lại nhân đó kể qua việc mình được triệu nhập cung hành y. Phương Toàn nghe xong thì cảm khái, vừa thương nàng vất vả, lại vừa mừng vì y thuật tinh thông, có thể làm được điều mà bao nữ tử không thể, trong lòng tràn đầy kiêu hãnh.
Sau một hồi trò chuyện, Giản Tư Cần liền nói:
“Muội muội à, hôm trước chưa xem được màn ảo thuật, nay Đăng Tiên Cực Lạc Lâu lại mở cửa, còn chọn hoa khôi nữa, náo nhiệt vô cùng. Hay là chúng ta lại hẹn nhau đi xem?”
Khương Ly đã từng xem ảo thuật, nhưng không muốn làm cụt hứng, liền gật đầu:
“Được, vậy mười lăm này, chúng ta gọi thêm Ngu Tử Đồng mấy người, cùng đến Đăng Tiên Cực Lạc Lâu một chuyến.”
Sau khi trở về phủ, Khương Ly liền sai người đến báo cho Ngu Tử Đồng cùng Phó Vân Từ, mấy người đều vui vẻ nhận lời.
Đến ngày rằm, sáng sớm trời đổ cơn mưa xuân đầu tiên của năm. Đến buổi trưa, mây tan mưa tạnh, ánh nắng chiếu rọi khắp nơi, Doanh Nguyệt Lâu trong ngoài đều như được rửa sạch bụi trần; chuối tây, trúc biếc xanh tươi đến mức như nhỏ nước. Cảnh sắc bừng sáng, tựa như xuân thực sự đã về.
Đến hoàng hôn, Khương Ly vẫn theo thường lệ, vào đầu giờ Dậu mới lên xe đến Đăng Tiên Cực Lạc Lâu.
Khi xe ngựa tiến vào Đông thị, ráng chiều nơi chân trời đang dần tắt, màn đêm nhuộm xuống, mà tòa lâu các cao ngất nơi góc tây nam Đông thị kia, đèn hoa rực rỡ, tựa như tiên phủ dát ngọc, quả thực xứng danh “Cực Lạc”.
Khương Ly vừa xuống xe đã thấy Phó Vân Từ cùng mấy người đứng đợi trước cửa, nàng bước nhanh tới.
Phó Vân Từ cười nói:
“Ta đã nói mà, ngươi thế nào cũng đến vừa khéo — Giản công tử đã vào trước rồi!”
Trong lâu tiếng tỳ bà, tiêu sáo ngân nga, vài người nối gót nhau vào cửa, vừa bước qua ngạch, Khương Ly đã không khỏi kinh ngạc.
Tòa lâu chính cao đến năm tầng, đại sảnh tầng một thoáng đãng tới ba tầng lầu, cầu thang gỗ uốn lượn từ bên phải vươn lên. Giữa sảnh vốn là nơi dựng sân khấu châu liêm lộng lẫy, song nay phía bắc sân khấu lại dựng lên một tháp đèn ngũ sắc sáng rực.
Mỗi chiếc đèn lồng đều vẽ chân dung nữ tử kèm danh tự khác nhau, bên dưới còn đặt thẻ ghi số, hiển nhiên là bảng xếp hạng. Khương Ly nhìn lên, thấy thứ tự đèn cũng sắp theo số, trên cùng viết hai chữ “Tuyết Nương”.
Nàng kinh ngạc:
“Đây là…”
Ngu Tử Đồng hứng khởi nói:
“Chính là bảng Tập Hoa chọn Hoa khôi của Tiên Lâu năm nay! Ngươi xem, đứng đầu kia chính là người khiến Cao Hàm và Đoạn Phối đánh nhau đến long trời lở đất. Dưới đó còn có một nửa không thuộc Tiên Lâu, mà là các kỹ nữ từ những thanh lâu khác trong thành đưa tới dự tuyển. Nếu trúng chọn, chẳng những bản thân được vinh dự mà thanh danh của nơi đó cũng tăng lên.”
Trên bảng Tập Hoa có hơn bốn mươi tên, mỗi biển hiệu là số trâm hoa mà các cô nương được khách tặng.
Vì số trâm thay đổi từng ngày, nên càng khiến khách nhân tranh nhau ném bạc cho người mình yêu thích.
Khương Ly từng đến Tiên Lâu vài lần, song đây là lần đầu thấy cảnh tượng này, trong lòng không khỏi thấy lạ.
Ngu Tử Đồng kéo nàng đi:
“Đừng nhìn nữa, lễ ra mắt tháng này đã kết thúc từ mồng mười rồi, chúng ta chẳng xem được gì đâu. Theo ta biết, các tiết mục ca vũ, cầm kỳ thi họa thật sự đều để dành đến tháng năm, lúc còn lại chừng mười người, mới thấy được tài năng thật.”
Cả nhóm men theo cầu thang lên tầng ba.
Phó Vân Hành nghe vậy bật cười:
“Tỷ là cô nương, sao lại am hiểu rõ ràng thế?”
Ngu Tử Đồng trừng mắt:
“Ái mộ cái đẹp là thường tình. Cớ sao nam nhân các ngươi được ngắm mỹ nhân, mà nữ tử lại không được thưởng thức? Vui thì xem, có chi không được?”
Phó Vân Hành biết tính nàng, chẳng dám cãi, chỉ lẩm bẩm: “Vẫn là không hợp phép tắc thôi.”
Khương Ly bật cười, vừa bước đến tầng ba thì thấy Giản Tư Cần đứng trước cửa nhã gian đợi sẵn.
Mà gian phòng Đoạn Phối từng gặp nạn hôm nọ, nay cũng đèn đuốc sáng choang, tấp nập khách khứa.
“Tô chưởng quỹ vốn định phong tỏa gian ấy, ai ngờ sau khi Tiên Lâu mở cửa lại có khách nhất định muốn thuê đúng phòng đó. Không những không kiêng, mà còn tò mò muốn xem nơi Thế tử Đoạn gặp chuyện ra sao. Lâu dần, gian ấy lại hóa thành chỗ được giành trước.”
Mọi người ở gian Địa tự nhất — cách gian kia hai phòng.
Nghe vậy, Ngu Tử Đồng kinh ngạc:
“Còn có chuyện như thế? Vì vui chơi mà chẳng chút kiêng dè. Ngoài kia, hễ trong phủ có người chết, dẫu nhà to mấy cũng khó bán.”
Giản Tư Cần mời mọi người ngồi, nói thêm:
“Phải đấy. Có điều Tiên Lâu cũng đã bỏ tiết mục Mục Liên Cứu Mẫu, đêm nay chỉ còn mấy trò cũ như Thần Tiên Tỏa, Hoàng Long Biến thôi.”
Ngu Tử Đồng nhún vai, tỏ ý không để tâm:
“Không xem cũng được. Gần đây ta theo phụ thân xem nhà, càng nghe nhiều chuyện lạ, càng thấy có kiêng vẫn hơn. Dù ‘Tử bất ngữ quái lực loạn thần’, nhưng ta chẳng dám coi thường đâu.”
Khương Ly tò mò hỏi:
“Sao lại đi xem nhà?”
Ngu Tử Đồng khẽ thở dài:
“Ca ca ta tuổi cũng lớn rồi, định chọn mối hôn sự. Phụ thân muốn chuẩn bị tân phủ, nên nhờ nha nhân đi tìm nhà. Đầu tháng đã ưng một tòa ở An Nhân phường, nhưng về sau mới biết chủ cũ bán rẻ vì nhà đó chẳng lành, từng có người chết yểu. Cha ta nghe xong liền ngại, e phải tìm lại.”
Giản Tư Cần rót trà, vừa bày đồ vừa nói:
“Chết người thì sao? Nhà nào chẳng từng có người qua đời.”
Ngu Tử Đồng bất đắc dĩ:
“Không phải chết bình thường. Ai mà chẳng có người bệnh mất, hay gặp tai nạn, đều là chuyện trời định. Nhưng nhà này thì lạ — xưa vốn ba dãy viện, mười hai năm trước, nhà đó đón dâu mới, lại sinh cháu trai. Thấy chật chội nên mua luôn viện ba gian kế bên, phá tường nối liền hai nhà, sửa lại thành phủ rộng rãi.”
“Chẳng ngờ, việc đó lại thành họa. Cục đất thay đổi, phong thủy biến chuyển. Hai năm đầu không việc gì, đến năm thứ ba, trong phủ người người đổ bệnh, đứa cháu trai nhỏ cũng mắc trọng bệnh mà chết. Lúc đầu nghi bị hại, quan phủ đến điều tra cũng không ra manh mối. Sau mời cao tăng đến xem, ông nói họ ‘mua nhầm viện’.”
Ngu Tử Đồng khẽ cảm thán:
“Nhưng nhà đã xây lại rồi, sao còn đổi được? Dù mời cao tăng làm phép, cũng chỉ yên ổn đôi năm, sau đó lại tái phát — người ốm, người chết, chủ nhân làm ăn cũng sa sút, cuối cùng đành dọn đi. Nhà để không mấy năm, mãi năm ngoái mới định bán, song rao suốt một năm chẳng ai dám mua. Ai biết rõ đầu đuôi câu chuyện, đều tránh xa.”
Phó Vân Từ nghe mà dựng tóc gáy:
“Chẳng lẽ viện bên kia có gì kỳ lạ?”
Ngu Tử Đồng nhún vai:
“Chuyện đó không ai rõ. Họ đã tra xét khắp, cũng chẳng phát hiện gì. Cao tăng chỉ tính ra rằng cải viện là điều không nên, đành tin như thế mà thôi.”
Khương Ly vốn là y gia, nghe xong không khỏi nghi hoặc:
“Người trong phủ đó mắc bệnh gì?”
Ngu Tử Đồng nhớ lại:
“Đứa cháu nhỏ kia chẳng biết vì sao mà chết, nhưng về sau trong phủ có người mắc chứng cuồng loạn, ngày đêm nói thấy ma; lại có người sảy thai, có kẻ đang yên lành thì mù mắt. Nói chung là nhà đó chẳng lúc nào yên.”
Đến Khương Ly cũng khó mà phân định nguyên do — những chứng ấy chẳng hề liên hệ, khó giải thích bằng cùng một lý y học.
Phó Vân Từ kinh hãi nói:
“Nghe như không phải bệnh, mà là phủ ấy có chuyện gì quái dị… sao lại đổ tội cho nhà cửa được?”
Phú hộ vốn nhiều thị phi, lời Phó Vân Từ cũng chẳng sai.
Ngu Tử Đồng lắc đầu:
“Chuyện chẳng hay ho gì, người ta cũng không muốn kể rõ, hỏi nhiều thêm rắc rối.”
Mọi người nhìn nhau, ai nấy đều thấy khó tin.
Ngu Tử Đồng cười xòa:
“Đều là chuyện kỳ quái nghe được ngoài phố, thật giả chẳng biết, thôi, thôi — kìa, ảo thuật sắp bắt đầu rồi!”
Dưới sân khấu, nhạc khúc bỗng đổi điệu, quả là đến tiết mục ảo thuật. Mọi người liền dồn chú ý xuống dưới.
Khương Ly từng xem qua khi điều tra án, nay tuy không có “Mục Liên Cứu Mẫu”, nhưng các tiết mục như Thần Tiên Tỏa, Hoàng Long Biến, lại thêm “Ngư long mạn diễn” đều vô cùng kỳ ảo.
Nửa canh giờ trôi qua, mọi người xem mà vừa cười vừa nói, cũng thấy thú vị.
Đến khi tiết mục cuối cùng kết thúc, Ngu Tử Đồng không nhịn được hỏi:
“Vị Tuyết Nương kia bao giờ mới diễn?”
Giản Tư Cần cười:
“Ta đã dò qua, nàng ta ba, năm ngày mới xuất hiện một lần. Lần tới là giờ Dậu ngày kia. Nếu muốn xem, phải đến sớm, vì bình thường nàng ta không tiếp khách. Ngoài nàng ta ra, những cô nương dự tuyển khác đều là gương mặt mới, cũng chỉ hai, ba ngày mới diễn một lần.”
Ngu Tử Đồng tán thưởng:
“Quả đúng là ‘nửa giấu nửa hở’, càng khó thấy càng khiến người ta lưu tâm. Toàn là người mới, thế mà Tiên Lâu sắp đặt khéo thật — đúng là biết buôn hương bán sắc.”
Giản Tư Cần cười:
“Cũng phải thôi, vì Tiên Lâu vốn thuộc về Quảng Lăng Tô thị mà.”
Mọi người nghe vậy đều thấy có lý.
Thời gian cũng đã muộn, xem thỏa rồi chẳng ai muốn ở lại thêm, liền cùng nhau rời lâu.
Khi bước lên hành lang, Khương Ly lại không khỏi ngẩng đầu nhìn quanh.
Ánh đèn phản chiếu trên tường ngọc, mà cuối hành lang, lối lên tầng bốn u tịch như sương.
Truyện được dịch bởi team rừng truyện chấm com!!!
Giản Tư Cần đi bên nàng, thấy thế liền hỏi nhỏ:
“Muội muốn lên trên ư? Hai tầng trên của Tiên Lâu không dễ vào đâu. Những cô nương có tiếng đều ở đó, mỗi người có phòng thêu riêng, so với dưới này, trên đó mới thật là ‘Đăng Tiên Cực Lạc’ — chỉ là, muốn lên thì phải một chi vàng đổi lấy ánh mắt người đẹp mới được.”
Khương Ly nheo mắt:
“Phải một chi vàng…”
Giản Tư Cần hạ giọng:
“Dẫu là kém nhất trong số đó, cũng phải trăm lượng bạc mới được gặp mặt. Người thường nào chịu nổi, dù là vương hầu cũng chẳng dám hoang phí vậy đâu.”
“Ta chỉ đang nghĩ — Đăng Tiên Cực Lạc Lâu là nơi vàng bạc như nước, người thường sao ra vào được? Vậy Lâm Hà năm xưa vì sao có thể thường xuyên đến đây? Nếu ta nhớ không lầm, ta từng bị tập kích ở tầng năm, nơi đó vốn là chỗ ở của Hoa khôi Liên Nương, mà nàng ta cũng chết trong trận hỏa hoạn ấy…”
“Là Hoa khôi… nàng ấy không kịp trốn ư?”
Khương Ly lắc đầu, giọng nặng trĩu:
“Ngọn lửa khi đó bốc dữ dội, không giống tai nạn bình thường. Nếu Liên Nương không biết võ công, e rằng khó lòng thoát nổi.”
Nói rồi, nàng nhắm mắt nhớ lại, nhưng vừa nghĩ đến cảnh tượng cũ, thái dương liền giật nhói, mạch máu nơi trán cũng căng lên đau buốt.
Nàng khẽ rên, đưa tay xoa nhẹ:
“Phải tìm cách điều tra tòa lâu đó mới được…”
Đăng Tiên Cực Lạc Lâu tuy là thanh lâu tửu tứ, nhưng Tô thị Quảng Lăng thế lực sâu dày, người canh gác trong lâu lại đông, chẳng dễ tiếp cận.
Đêm ấy Khương Ly ngủ chẳng yên, sáng ra thái dương vẫn đau, chỗ vết thương cũ nơi ngực cũng âm ỉ.
Nàng sai Cát Tường ra trước viện báo bệnh, rồi ở lại Doanh Nguyệt Lâu tĩnh dưỡng.
Tin nàng bị bệnh vừa truyền đi, Diêu thị và Tiết Thấm đã đến “thăm hỏi”.
Mẫu tử họ lên lầu, thấy nàng quả thật xõa tóc, dựa vào cửa sổ nghỉ ngơi, thì tỏ vẻ quan tâm.
Diêu thị thở dài:
“Ôi, biết làm sao đây. Khánh Dương công chúa đã gửi thiếp mời con cùng Thấm nhi dự Thưởng hoa yến ngày mai, nay con lại phát bệnh thế này…”
“Thưởng hoa yến ngày mai?” — Khương Ly thầm cười lạnh. Thiếp mời chắc hẳn chẳng phải hôm nay mới đưa.
Nàng khẽ ho, thong thả nói:
“Di nương không cần bận tâm. Để tam muội đi dự là được, ta bệnh, đâu tiện đến mà lây người khác.”
Vừa dứt lời lại ho khan.
Diêu thị liền lùi ra, Tiết Thấm cũng che miệng như sợ bị lây.
Chẳng nói thêm câu nào, hai mẹ con lấy cớ “không dám quấy rầy việc tĩnh dưỡng” rồi lui xuống.
Hoài Tịch tiễn họ đi xong, hừ nhẹ:
“Thật chẳng chịu nổi cái vẻ giả nhân giả nghĩa của họ. Tiết đại nhân chắc chỉ thích loại đó thôi. Giản phu nhân thì bị giam nơi tiểu viện, ngược lại để mẫu tử họ được phong quang. Nếu sau này Tiết Trạm đỗ đạt, e là phủ này chẳng biết trời đất đâu nữa. Cô nương, người thật định tiếp tục giúp Tiết cô nương chứ?”
Khương Ly khẽ ho, đáp:
“Tất nhiên. Dẫu Tiết phủ thế nào, ít ra mẫu thân nàng ấy vẫn còn, phụ thân nàng ấy cũng là người thân ruột thịt. Nếu năm đó ta biết sớm, đã không để lỡ cơ hội rồi.”
Hoài Tịch vỗ nhẹ lưng nàng:
“Khi ấy cô nương cũng chỉ là đứa trẻ, đâu biết nàng là đại tiểu thư nhà họ Tiết. Nếu chẳng vì tìm đường về Trường An, cũng chẳng biết chuyện xưa có duyên thế này.”
Dừng một lát, nàng khẽ nói nhỏ:
“Chỉ sợ năm ấy, nếu thật sự có liên can đến nhà họ Tiết, thì giữa cô nương và nàng ấy vẫn còn một mối thù.”
Khương Ly lắc đầu:
“Không thể. Nàng ta từ nhỏ đã rời nhà, sao liên quan được?”
Hoài Tịch mím môi:
“Nhưng e rằng lòng tốt này khó mà được báo đáp. Đã hơn một năm rồi, chẳng thấy tin tức gì.”
Khương Ly khẽ thở dài:
“Không sao, ta cứ trị bệnh cho mẫu thân nàng ấy trước cũng là việc thiện.”
Hoài Tịch không nói thêm, chỉ khẽ cảm thán:
“Trời ấm dần rồi, thế mà cô nương lại ốm vào lúc này. Nếu Các chủ biết, thể nào cũng trách nô tỳ. Cô nương phải tự chăm mình hơn mới được.”
Khương Ly bật cười, giọng khàn khàn:
“Biết rồi, biết rồi. Xem như trốn đi tìm chút yên tĩnh cũng tốt.”
Những năm tháng từng trải ở Thương Lang Các, chút mệt mỏi này Khương Ly vốn chẳng để vào lòng.
Nhưng nàng không ngờ, muốn có một ngày an tĩnh cũng chẳng dễ dàng.
Chiều hôm sau, Cát Tường và Như Ý khiêng lên tầng hai một rương lớn cao ngang người, khiến Khương Ly giật mình:
“Cái này là gì vậy?”
Cát Tường đáp:
“Đại tiểu thư, Bùi lão phu nhân nghe nói cô nương bị bệnh, vừa rồi đặc biệt cho người mang đến, nói là để cô nương bổ thân, lại có thứ cho cô nương giải khuây khi dưỡng bệnh…”
Khương Ly vô cùng kinh ngạc:
“Lão phu nhân phủ Bùi? Bà làm sao biết ta bị bệnh?”
Cát Tường và Như Ý liếc nhìn nhau, rồi Cát Tường đáp:
“Chỉ sợ là do chuyện ở Thưởng hoa yến phủ Khánh Dương công chúa hôm nay. Tam tiểu thư lúc giữa trưa đi dự yến, nhưng chưa đến hai canh giờ đã tức giận trở về.
Trường Cung và phu xe của tam tiểu thư nghe ngóng được rằng, trong yến hội, ngay cả Khánh Dương công chúa cũng hỏi thăm bệnh tình của đại tiểu thư, mà đối với tam tiểu thư thì hững hờ.
Tam tiểu thư bị lạnh nhạt, lại e không gặp được người mình muốn gặp, nên mới giận dỗi quay về sớm.”
Khương Ly khẽ nheo mắt:
“Nàng ta để tâm đến Đức vương Điện hạ phải không?”
Hai nha hoàn đồng loạt gật đầu.
Khương Ly lắc đầu, chẳng buồn nói thêm, chỉ nhìn chiếc rương lớn kia. Linh cảm nói cho nàng biết, thứ bên trong tuyệt đối không phải do Bùi lão phu nhân tặng.
Khương Ly tiến lại xem, vừa nhìn rõ bên trong đã dở khóc dở cười:
“Lão phu nhân… quả là trẻ trung quá rồi. Được rồi, để đó đi.”
Cát Tường và Như Ý ngơ ngác lui ra.
Hoài Tịch nhìn đống đồ trong rương, cũng không khỏi ngạc nhiên:
“Chín vòng khóa, Lỗ Ban tỏa, tượng đất, bóng da, bàn cờ, còn có diều giấy nữa… đây là coi cô nương như trẻ con chắc?
Không đúng, còn có phấn son, tơ lụa, hương liệu… Ồ, là hàng của Lâm Hạ Xuân Đường, toàn đồ hảo hạng.”
Trong rương toàn là vật tinh xảo, hoặc để giải khuây, hoặc để trang sức. Dù Khương Ly đã chẳng còn cái tính nghịch ngợm năm xưa, nhưng nhìn qua cũng đoán được người chuẩn bị những món này đã tốn không ít tâm tư.
Nàng bật cười:
“Là Ninh Quắc tặng đấy. Nếu thấy món nào thích, cứ lấy mà chơi.”
“Là Ninh công tử ư?” Hoài Tịch ngẩn ra, rồi nhìn kỹ lại, lập tức hiểu ra:
“Phải rồi, ngoài hắn thì còn ai có thể tặng kiểu này được chứ…”
…
“Sư huynh!—”
Bùi Yến đang ngồi sau công án duyệt quyển tông, vừa ngẩng đầu đã thấy Ninh Quắc cau mày chạy vào.
Hắn lạnh nhạt hỏi:
“Lại chuyện gì nữa?”
Ninh Quắc bước nhanh đến trước bàn, vẻ mặt khổ sở:
“Sư huynh, ta lại phải nhờ huynh giúp ta che giấu một lần—”
Bùi Yến liền lạnh giọng cắt ngang:
“Nếu vẫn là chuyện lần trước, thì dừng ở đây đi. Tiết cô nương nói rất đúng, thân thể tổ mẫu ta đâu thể giấu mãi được.”
Ninh Quắc vội xua tay:
“Không phải chuyện đó, sư huynh yên tâm!”
“Vậy thì ta cũng giúp không nổi.”
Bùi Yến dứt khoát, cúi đầu tiếp tục xem văn thư.
Ninh Quắc lắp bắp:
“Nhưng… nhưng ta lỡ làm rồi! Ta vừa gửi lễ cho Tiết cô nương, còn dùng danh nghĩa lão phu nhân…”
Ngón tay đang lật giấy của Bùi Yến khựng lại. Hắn ngẩng lên, ánh mắt lạnh lùng nhìn thẳng.
Thấy thế, Ninh Quắc hoảng, vội cầu hòa:
“Sư huynh đừng giận! Là vì Tiết cô nương bệnh rồi! Ta sợ nàng—”
“Ngươi nói gì?”
Giọng Bùi Yến chợt trầm xuống.
Ninh Quắc nói nhanh:
“Không nghe nhầm đâu, nàng bệnh thật, mà e bệnh không nhẹ. Ngay cả Thưởng hoa yến của công chúa Khánh Dương nàng cũng không đến, chỉ có muội muội nàng đi thay.
Tuy nàng y thuật cao, chắc không nguy, nhưng người ta nói ‘y giả nan tự y’, ta cũng lo lắm.”
“Rầm!” — Bùi Yến khép mạnh quyển tông:
“Bệnh tình thế nào?”
Ninh Quắc lúng túng:
“Nghe muội nàng nói mơ hồ lắm, chỉ bảo là nhiễm phong hàn, không tiện ra ngoài.
Ta nghĩ, dù chỉ là cảm lạnh, nàng giúp nhà họ Ninh ân trọng như vậy, ta cũng nên bày tỏ tấm lòng.
Nàng vốn không thiếu thuốc men, ta liền chọn vài món đồ thú vị gửi sang…”
Mấy lời dài dòng của hắn Bùi Yến chẳng buồn nghe.
Ánh chiều tà ngoài cửa hắt vào, Bùi Yến chau mày, ánh mắt xa xăm. Đến khi hoàn hồn, thấy Ninh Quắc vẫn thấp thỏm chờ, hắn chậm rãi nói:
“Ngươi làm thế… là để tạ ơn nàng cứu tiểu điện hạ, phải không?”
Ninh Quắc ngẩn ra, rồi gật đầu có chút ngượng:
“Tất nhiên rồi!”
Bùi Yến khẽ gật:
protected text
Ninh Quắc lập tức rạng rỡ:
“Ta biết mà! Vậy là ta chọn đúng rồi! Lần sau cứ theo kiểu này, dễ hơn nhiều!”
Bùi Yến chỉ đáp thản nhiên:
“Lần này ta không trách. Nhưng danh nghĩa tổ mẫu, không được dùng bừa.”
Ninh Quắc nhẹ nhõm hẳn, cười:
“Ta biết sư huynh tốt mà… ơ, sư huynh đi đâu thế?”
Bùi Yến đã bước ra khỏi bàn, khoác lấy áo choàng, hiển nhiên định ra ngoài.
Hắn đáp lạnh nhạt, chẳng quay đầu:
“Nói đến tổ mẫu, ta chợt nhớ tối nay phải cùng dùng bữa với người. Giờ không sớm, ta đi ngay.”
Ninh Quắc há miệng định nói gì, đành cụt hứng:
“Thôi vậy, hôm khác ta đến thỉnh an lão phu nhân.”
…
Đêm ấy, Khương Ly ngồi đọc y thư đến tận canh hai.
Đến lần thứ năm Hoài Tịch giục đi nghỉ, nàng mới bật cười khép sách:
“Được rồi được rồi, nghe ngươi vậy.”
Hoài Tịch mừng rỡ, bước lên thu dọn.
Khương Ly thấy nàng luống cuống liền cười, đứng dậy đi về phía phòng tắm.
Nhưng vừa bước được hai bước, từ ngoài cửa sổ hướng đông bắc, bỗng vang lên tiếng động cực khẽ, như gió sột soạt qua lá.
Gần như cùng lúc, Hoài Tịch vừa đặt sách lên kệ đã khựng lại, ánh mắt bén như kiếm lia về hướng ấy.
So với nàng, Khương Ly chỉ thoáng sững người, rồi lập tức hiểu ra, nhanh chân đến bên cửa sổ, khẽ nói: