Sau nghi thức giao bôi, mọi người nhao nhao lên trêu ghẹo, kéo Châu Đàn ra khỏi phòng tân hôn để cùng nhau uống rượu mừng.
Hắc Y, người đứng ở cuối cùng, sau khi mọi người đã đi khuất, hắn dừng lại một chút. Dưới ánh mắt khó hiểu của Vận ma ma, hắn quỳ xuống, trịnh trọng dập đầu với Khúc Du một cái.
Giọng hắn vẫn luôn khàn đặc: “Thuộc hạ xin chúc đại nhân và phu nhân vĩnh kết đồng tâm, mọi điều suôn sẻ, khỏe mạnh bình an.”
Từ khi đi theo Châu Đàn, hắn tựa như cái bóng, không rời nửa bước, một lòng trung thành, dù trong hoàn cảnh nào cũng đều theo sát.
Khúc Du cảm kích trong lòng, ôn tồn nói: “Mau đứng lên.”
Nàng cách một lớp quạt che mặt, nghe thấy đối phương đứng dậy mới tiếp lời: “Tấm lòng ngươi đối với đại nhân, ta đều thấy rõ. Trong lòng chàng cũng coi ngươi như huynh đệ, trải qua bao phen sinh tử, chúng ta cũng tính là thân nhân. Hôm nay là ngày đại hỷ của bọn ta, ngươi cũng uống thêm vài chén rượu mừng đi.”
Hắc Y khẽ nghẹn ngào một tiếng, nhưng dường như không muốn để nàng nghe thấy, chỉ chốc lát sau đã kìm lại cảm xúc: “Vâng.”
Sau khi Hắc Y rời đi, Khúc Du cũng không phải chờ lâu trong phòng, lúc sau nàng liền nghe thấy tiếng cửa được đẩy ra.
Châu Đàn vốn không giỏi uống rượu, hôm nay vì quá vui nên mới uống nhiều hơn vài chén. Khi đẩy cửa bước vào, Khúc Du chỉ ngửi thấy một mùi hương rượu nồng nhẹ nhàng, thoang thoảng.
Chàng quay đầu khép cửa lại, đứng tại chỗ, yết hầu hơi căng thẳng mà nhấp nhô lên xuống.
Khúc Du thấy chàng mãi chưa động đậy, liền cười khẽ sau chiếc quạt, hỏi: “Phu quân sao còn chưa qua đây?”
Châu Đàn lúc này mới có chút lo lắng bước tới, nắm lấy tay nàng, rất đỗi dịu dàng gỡ chiếc quạt che trước mặt nàng ra.
Chàng nhìn vào đôi mắt trong veo như nước hồ thu của nàng, cảm thấy sự bình tĩnh và lãnh đạm của mình trước đây đã bay lên chín tầng mây, giờ đây chỉ còn lại tiếng tim đập dồn vang trong lòng.
Khúc Du hôm nay đã trang điểm rất tỷ mỉ kỹ lưỡng, ngay cả trên trán cũng có một đóa hoa hồ điệp được vẽ tinh xảo. Ánh mắt Châu Đàn lần theo lên trên, chạm nhẹ vào giữa đôi mày nàng: “Thật đẹp.”
Không rõ là khen nàng hay khen đóa hồ điệp kia.
Rõ ràng đã là người thân mật nhất, nhưng trong tình cảnh này, hai người nhìn nhau đỏ mặt, nhất thời lại không biết nên nói gì cho phải.
Khúc Du theo bản năng cầm quạt phe phẩy cho mình. Thấy ánh mắt Châu Đàn né tránh, nàng dứt khoát vứt chiếc quạt trong tay, đưa tay túm lấy cổ áo chàng.
Không ngờ động tác này lại dùng sức quá mạnh, Châu Đàn không kịp đề phòng, liền ngã đổ lên người nàng.
Khúc Du ngửa đầu ngã xuống giường, chiếc mũ phượng quan trên đầu cũng theo đó tuột xuống, làm rối tung búi tóc được chải chuốt kỹ lưỡng của nàng. Châu Đàn vội vàng đưa tay kê dưới gáy nàng, đề phòng nàng bị thương.
Nàng dứt khoát tháo luôn những cây trâm cài còn sót lại trên tóc mình, mặc cho mái tóc đen dài như mây thuôn dài đổ xuống, lướt qua gương mặt Châu Đàn.
Chàng ngửi thấy một mùi hương hoa hạnh dịu dàng, trầm tĩnh, hòa quyện với mùi tĩnh thuỷ hương mà chàng thường xông trên người, lạ thay lại hài hòa đến kinh ngạc.
Châu Đàn bỗng cảm thấy lòng mình nóng rực, áp sát tai nàng mà gọi: “Du Du…”
Khúc Du khẽ cười một tiếng, lấy làm lạ hỏi: “Sao chàng không gọi là A Liên nữa?”
Châu Đàn trả lời giọng trầm đục: “Nhưng mọi người đều gọi nàng là Du Du.”
“Phải, mọi người đều gọi là Du Du.”
Nàng trước kia không có tên tự, đến thế giới này rồi mới có. Ngoại trừ mẫu thân, hầu như không có ai gọi cái tên ấy.
Khúc Du nghĩ vậy, ôm chặt lấy cổ chàng, thì thầm bằng hơi thở: “… Chỉ là A Liên của riêng mình chàng mà thôi.”
Châu Đàn đặt tay sau gáy nàng, cúi đầu trao nàng một nụ hôn ướt át.
“Kỳ thực, trước khi Tiểu Yên dẫn năm ngàn tinh nhuệ ra khỏi thành, ta… đã nghĩ đến vô số viễn cảnh.” Khi nụ hôn vừa dứt, Châu Đàn khẽ khàng nói với nàng, giọng khàn đặc: “Nếu quả thật không giữ được Nhược Châu, Từ thúc và ta nhất định sẽ đích thân dẫn theo tàn binh Lăng Tiêu quân ra trận.”
Châu Đàn trong khoảng thời gian đó đứng ngồi không yên, nàng kỳ thực nhìn ra được, nhưng lúc ấy nàng cũng không có cách nào hóa giải, đành phải hỏi ít đi vài câu, sợ làm chàng thêm lo nghĩ.
Đây là lần đầu tiên nàng tiếp xúc gần gũi với chiến tranh đến vậy, mỗi ngày tại lều trại y xá tạm thời đều tận mắt chứng kiến những cánh tay, cẳng chân bị cắt rời. Để trấn an mọi người, nàng cố gắng tỏ ra bình tĩnh, nhưng ban đêm vẫn thường gặp ác mộng.
Giữa lúc mồ hôi lạnh chảy ròng, nàng trở mình xuống giường, mở cửa sổ, nhìn ngọn đèn treo trước cửa phòng đối diện của Châu Đàn mới miễn cưỡng bình tâm trở lại.
Điều nàng không biết là trong vô số đêm khuya, Châu Đàn cũng ngồi sau khung cửa sổ giấy, lấy ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn đó làm niềm an ủi. Dường như chỉ cần nó vẫn còn sáng thì mọi chuyện vẫn còn hy vọng.
“Thiếp biết, chàng dẫn tàn binh Lăng Tiêu quân ra trận, bất kể thắng thua, một đội quân với số lượng khổng lồ như vậy, chỉ cần xuất hiện ở Tây Cảnh nhất định sẽ bị bệ hạ phát hiện.” Khúc Du tiếp lời chàng: “Mưu tính vì Tử Khiêm sẽ vì thế mà đổ vỡ.”
Nhưng, Nhược Châu nhất định phải giữ. Chàng sẽ không lấy mạng sống của dân chúng cả thành để làm quân cờ cho mình.
“Lúc đó ta đã tự an ủi bản thân vô số lần, rằng nhất định sẽ có cách khác, ta có thể thuyết phục Sở lão tướng quân, hoặc là đoạt được hổ phù… Nhưng ta cũng biết, những giả thiết đó quá đỗi viển vông. Chí ít, khi bệ hạ biết tàn binh Lăng Tiêu quân vẫn còn, hắn nhất định sẽ triệu ta về Biện Đô.” Châu Đàn từ tốn nói: “Hắn khoan dung với ta, bởi vì ta vô hại. Nếu ta có quân cờ, hắn nhất định sẽ để ta chết trong tai nạn một cách lặng lẽ. Bao nhiêu năm nay, ta thực sự quá hiểu hắn ta…”
Khi đó, sự lựa chọn mà Châu Đàn phải đối mặt không chỉ là quân cờ của Cảnh Vương Tôn, mà còn là chính sinh mạng của chàng.
Chàng chỉ nói vài câu đơn giản, Khúc Du đã hiểu ý, cảm thấy sống mũi cay cay, bèn ôm chặt lấy cổ chàng hơn nữa: “Mọi chuyện đã qua rồi, ông trời đối xử với chúng ta không tệ, bất kể gặp phải chuyện gì đều có thể hóa nguy thành an.”
“Ừm.” Châu Đàn áp trán mình vào trán nàng: “Trước khi gặp nàng, mỗi chuyện ta gặp phải đều tệ hơn những gì ta tưởng tượng. Nhưng từ khi nàng tới bên ta, ta luôn cảm thấy… mọi thứ đều tốt hơn ta nghĩ, cho dù rơi vào tình cảnh nguy hiểm nhất cũng có thể tìm thấy con đường sống trong cảnh cùng đường.”
“Khi thiếp nghe thấy tiếng pháo kích trong thành, thiếp cũng từng sợ hãi, nhưng nghĩ đến chàng đang ở trên tường thành, thiếp lại cảm thấy không có gì đáng sợ nữa.” Khúc Du gối đầu lên cánh tay chàng, thủ thỉ nói: “Chiến tranh thật tàn khốc, người dân Biện Đô cả đời cũng không thể tưởng tượng ra cảnh tượng ấy. May mắn thay, có Tiểu Yên ở đây, đợi đến khi chúng ta trở về Biện Đô, mọi chuyện đã định, đó chính là thiên hạ thái bình thịnh thế thật sự.”
Nàng không nói dối. Trong thời gian Tống Thế Huyên tại vị, thiên hạ an bình, bách tính ấm no, trong triều không có bè phái, biên cương không có chiến sự. Tuy Tước Hoa Lệnh đã bị bãi bỏ, nhưng các điều khoản trong đó đã ảnh hưởng sâu sắc đến luật pháp Đại Dận.
Thái bình thịnh thế mà Châu Đàn mong đợi đã đến như hẹn.
Chỉ có hai người bọn họ là thất hẹn, bởi vì cả hai đều đã nằm lại trong dòng thời gian cũ, không kịp tận mắt chứng kiến.
Khúc Du lắng nghe tiếng tim đập của Châu Đàn, run rẩy nghĩ, từ khi đến đây nàng chưa từng có nguyện vọng mãnh liệt nào, nhưng nếu nàng thực sự có thể thay đổi lịch sử, nàng nguyện đánh đổi mọi thứ để Châu Đàn được trường thọ trăm tuổi.
“Thịnh thế…” Châu Đàn khẽ lặp lại hai từ này, cười một tiếng như mang theo vô hạn hy vọng, rồi lại ghé sát hôn nàng: “Được, tất cả sẽ suôn sẻ, mọi việc đều sẽ thuận lợi.”
Hỷ phục nặng trịch trên người nàng nhẹ nhàng rơi xuống trước màn trướng. Phòng tân hôn này là phòng của Châu Đàn, màn giường được bày trí bằng sa lụa Lăng Hoa Nguyệt Ảnh mà Yên Phục mang từ Biện Đô về. Dẫu màn có buông xuống hết, ánh nến vẫn có thể lờ mờ xuyên qua, ánh sáng lấp lánh, tựa như bóng trăng.
Khúc Du bỗng nhiên cảm thấy hơi sợ hãi.
Từ khi nàng đến thế giới này, tuy phụ mẫu song toàn, đệ muội đều có mặt, có bằng hữu, có tri kỷ, nhưng chung quy nàng vẫn cô độc. Mọi thứ đều thuộc về chủ nhân ban đầu của cơ thể này, người mà đã chết đuối vào ngày bị rơi xuống nước, để lại tất cả cho nàng.
Không biết nhân duyên từ đâu mà có, triệu hồi nàng xuyên qua sử sách mà đến nơi đây. Nàng phải xứng đáng với mọi thứ mà Khúc Ý Liên đã để lại cho nàng, vì vậy nàng hiếu thuận với song thân, chăm sóc cả gia đình. Sau đó lại mơ hồ xuất giá, đi đến bên cạnh Châu Đàn.
Chỉ có Châu Đàn là thực sự thuộc về nàng, thuộc về Khúc Du ấy, người từng cứu mạng chàng, từng cùng chàng ôm nhau ngủ dưới màn sương mờ phủ đỉnh núi Kinh Hoa và từng thắp cho chàng một ngọn đèn trước cửa phòng trong đêm tối.”
Điều chàng kính ngưỡng chính là chính bản thân nàng, người đã can đảm mà gõ trống trên phố Ngự, người đã vén màn sương mù lịch sử mà nhìn thấy chàng.
Thế nên chàng đã dâng hiến chút quyến luyến và tin tưởng ít ỏi cuối cùng của mình, từ giây phút quyết định yêu nàng, chàng đã dốc hết những bí mật liên quan đến sinh mạng, không hề có nửa phần che giấu.
Nhưng kỳ thực, nàng ở nơi đây, cũng là một người đáng thương cô độc, cần tình yêu của chàng.
Xuyên qua muôn đời, gặp gỡ sớm hôm, cuộc gặp gỡ như thể là một cuộc trùng phùng sau bao năm xa cách.
Nào chỉ một mình Châu Đàn cảm thấy may mắn.
Châu Đàn hôn lên giọt nước mắt nơi khóe mắt nàng, dịu dàng hỏi: “Sao nàng lại khóc?”
Khúc Du bật cười trong nước mắt: “Thiếp vui, cảm thấy chàng cuối cùng cũng đã là của thiếp rồi.”
Ngón tay nàng lướt qua bờ vai trần của chàng, nhìn thấy vết tích mờ nhạt do lần nàng cắn trước kia để lại, không nhịn được lại mở miệng. Vốn định cắn thêm một dấu ấn nữa, nhưng lại không nỡ xuống răng, cuối cùng chỉ còn là một nụ hôn nhẹ nhàng đáp xuống.
Gió lay động tấm sa Nguyệt Ảnh*, nhẹ nhàng lướt qua mu bàn tay nàng. Khúc Du nắm lấy màn trướng, mượn lực ngồi dậy, bỗng dưng nổi hứng trêu đùa, cắn vào tai Châu Đàn mà hỏi: “Thiếp còn nhớ, lần trước chàng nói mình còn chưa thành thạo, cần phải luyện tập thêm. Không biết lần này đã học qua chưa?”
*Loại rèm voan mỏng, cho phép ánh sáng nhẹ nhàng xuyên qua, tạo hiệu ứng bóng mờ như ánh trăng chiếu qua rèm
Châu Đàn ở rất gần nàng, nàng dường như có thể ngửi thấy hơi ấm tỏa ra từ da thịt chàng. Giọng chàng khàn đặc, lọt vào tai nàng là một mảng tê dại: “Không cần phải học.”
Khúc Du tỏ vẻ hoài nghi.
Thế là, Châu Đàn dùng hành động chứng minh cho nàng thấy tài năng thiên bẩm của mình.
Khoảng lúc gần hừng đông, Khúc Du cảm thấy hơi ngột ngạt, kéo tấm màn trướng đang lơ lửng ra, muốn đi mở cửa sổ, nhưng phát hiện hai chân mềm nhũn, không thể đứng dậy.
Châu Đàn vòng một cánh tay từ phía sau ôm nàng trở lại, nhận được một cái lườm giận dỗi của giai nhân.
Thế là chàng bật cười, tiện tay khoác chiếc hỷ bào đỏ thẫm bên cạnh, chân trần bước xuống giường đi mở cửa sổ.
Vầng trăng vẫn chưa lặn, chiếu rõ một vườn hoa hạnh trắng muốt ngoài cửa sổ. Từ khi chuyển đến đây, nàng đã ngắm hoa hạnh nở hai lần vào mùa xuân. Chẳng hay biết, thời gian ở Nhược Châu lại dài hơn cả ở Biện Đô.
Nhưng nàng luôn cảm thấy thời gian trôi qua rất chậm.
Châu Đàn đứng trước cửa sổ thở dài một tiếng, quay đầu nhìn nàng: “Đêm xuân hoa hạnh trắng ngần thơm ngát, quả là một cảnh đẹp hiếm có.”
Khúc Du ngây người nhìn người trước cửa sổ. Chàng xõa tóc dài, khoác hỷ bào, hệt như lần đầu nàng tỉnh dậy thấy chàng sau tấm bình phong.
Điều khác biệt là giờ đây Châu Đàn khoác lên mình ánh trăng, bóng trời hoa hạnh in sâu trong mắt chàng. Trong thoáng chốc, nàng cảm thấy trên đời này không còn cảnh sắc nào đẹp hơn chàng.
Vừa lúc trước cửa sổ là án thư, Châu Đàn xuất thần nhìn nàng một lúc, chợt cầm bút, viết một câu trên án.
Viết xong, chàng liền bưng cả án nhỏ và bút mực trên bàn đến. Khúc Du vuốt mái tóc dài của mình, phát hiện bài thơ này được chàng hứng khởi viết ra, nàng cũng đã từng thuộc lòng.
Một trong những bài thơ được truyền tụng rộng rãi nhất của chàng, Tứ Nguyệt Thập Thất Nhật Hạnh Hoa Xuân Dạ. (Đêm xuân hoa hạnh ngày mười bảy tháng tư)
Thanh ngọc thốn tiết chí bất thu, nhất kính xuân quang mạc triển trù. (Tấc ngọc thân xanh chí chẳng mòn, Một đường xuân sắc chẳng đua chen)
Nàng từng đoán rằng bài thơ này được viết ở Nhược Châu, có lẽ là để dành tặng cho tri kỷ, nhưng trong sử sách chàng không có tri kỷ, càng không nói đến bậc sĩ phu có cốt cách vượt qua mùa thu như trong thơ. Nàng không tài nào tìm ra đối tượng mà bài thơ này miêu tả.
Châu Đàn chấm mực cho nàng, cười nói: “Phu nhân bổ sung một câu giúp ta đi.”
Nàng nhận lấy bút, khẽ cười.
Thì ra bài thơ này là viết về chính chàng, quả thực rất hợp với chàng.
Thế là nàng không chút do dự viết:
Mạc tích kính dật thanh sấu cốt, hướng lai thử vật tối lăng thu. (Ngại chi thân mảnh, gân cốt vững, Xưa nay vật ấy vượt thu hàn)
Châu Đàn không tiếp tục động bút. Chàng ngẩn người nhìn câu thơ đó, hồi lâu mới ngẩng đầu lên, ánh lệ long lanh trong mắt, không biết có phải vì sự thấu hiểu của nàng mà cảm động hay không.
Tàn khúc này tạm thời được gác lại, cho đến nửa năm sau, vào đợt tuyết đầu mùa, Châu Đàn tình cờ tìm thấy, mới viết tiếp.
Nàng cũng tiếp tục bổ sung câu cuối cùng.
Lộ tuyết áp chi trần bất nhiễm, đạm đãng phong ba hữu như cừu. (Sương tuyết đè cành, trần chẳng vấy, Phong ba đối mặt thù mà lay.)
Cánh khúc điệp ca át vân khởi, hưng lai tiểu điệu xướng chư hầu. (Khúc nối khúc vang mây ngừng cuộn, Ngẫu hứng ca khúc vọng chư hầu.)
—
Những ngày tháng ở Nhược Châu trôi qua chậm rãi và yên bình. Từ Thực và Yên Phục dẫn Lăng Tiêu quân thao luyện ở sa mạc, Châu Đàn và Khúc Du đảm đương công việc của mỗi người trong thành. Khúc Du từ trước đã hứng thú với việc phá án, bèn nhận một chức vụ Chưởng luật dưới quyền Châu Thông phán, xử lý các vụ án cũ tồn đọng và kiện cáo của dân chúng.
Nàng không cần cải trang nam, trực tiếp mặc quan phục màu lam thẫm, đội mũ quan. Vì thân hình thanh thoát, đai ngọc thắt ngang eo thon, trông nàng tuấn dật thoát tục.
Ban đầu, vẫn có người vì vẻ đẹp của nàng mà khinh thường, nhưng Khúc Du lại đọc rất nhiều điển tịch hình luật. Đối với những án mạng dân gian, tuy chưa gọi là thành thạo, nhưng nàng lại nghĩ ra không ít điểm đột phá. Những nha dịch đi cùng dần dẹp bỏ lòng khinh suất. Lâu dần, họ cùng dân chúng trêu gọi nàng một tiếng “Nữ Thanh Thiên”.
Khúc Du dựa vào kinh nghiệm phá án của mình, lúc nhàn rỗi đã đối chiếu với hình luật Đại Dận, viết ra vài điều mục cần sửa đổi. Tuy còn rất sơ sài, nàng chưa kịp sắp xếp, còn tản mác không thành hàng. Nàng luôn nghĩ sau này sẽ cùng mọi người đính chính, sửa chữa, nhưng lại cứ lười biếng, chưa thực hiện được.
Bởi vì cứ mỗi dịp nghỉ ngơi và các ngày lễ khác, nàng lại rất bận.
Khi thì cùng Châu Đàn phi ngựa trên sa mạc, khi thì theo Yên Phục thỉnh thoảng trở về để học cưỡi ngựa bắn cung và võ nghệ đơn giản.
Hoặc giả là cùng Châu Đàn ngồi trên tường thành ngắm trời đất, từ lúc mặt trời mới mọc cho đến khi ráng chiều phủ khắp, từ bầu trời xanh biếc đến trăng sao lấp lánh. Mây trôi biến ảo, bọn họ luôn không thấy chán, và cũng có vô vàn chuyện để nói.
Thỉnh thoảng nhận được thư từ của cố nhân ở Biện Đô, nội dung đa phần là phụ mẫu đệ muội nhớ nhung và cố bằng hữu hỏi thăm.
Cao Vân Nguyệt thường nhờ người mang vải vóc trang sức đến, vẽ cho Khúc Du một mặt trăng nhỏ làm ký hiệu. Khúc Du gửi cho nàng ấy rượu nho ngon của vùng biên ải, rồi trêu chọc vẽ lại một đóa mây.
Cứ thế cho đến đêm Trừ Tịch năm Vĩnh Ninh thứ mười bảy.
Năm mới sắp đến, nhưng Khúc Du lại cảm thấy bài xích và bất an đối với năm Vĩnh Ninh thứ mười bảy. Sự bất an này khó có thể nói với bất kỳ ai.
Bởi vì nàng biết, năm này Châu Đàn sẽ trở về Biện Đô.
Những ngày tháng vô tư vô lo, tựa như mộng ảo ở Nhược Châu cuối cùng cũng sắp phải kết thúc.
Tiết Hoa Triêu vừa qua, Châu Đàn liền bị nhiễm phong hàn. Tuy là bệnh nhẹ, nhưng chàng không để ý trước đó nên bệnh kéo dài, phải nằm trên giường tĩnh dưỡng một thời gian.
Hôm đó vừa lúc không có việc gì, Khúc Du đang đọc văn thư trong Châu phủ. Hắc Y bỗng đích thân bước vào bẩm báo: “Phu nhân, có người ở cửa thành đến báo, nói đã bắt được hai người cố ý xông vào mà không có giấy thông hành, là một nam một nữ. Chỉ nói là muốn gặp phu nhân và đại nhân. Thuộc hạ nghe thấy không ổn đã đích thân đến gặp… là cố nhân ở Biện Đô. Đại nhân đang bệnh, xin phu nhân tới xem thử.”
Nàng do dự hồi lâu, rồi cũng đứng dậy.
Tiết xuân tháng ba tươi đẹp vừa mới đến nay dường như đã sắp kết thúc. Nơi chân trời vang lên tiếng sấm âm ỉ, một luồng gió lạnh thổi qua bầu trời sắp đổ mưa rào.
Sẽ luôn có biến cố xảy ra, Khúc Du nghĩ.
Nhưng nàng vạn lần không ngờ biến cố lại đến như thế này. Nàng theo Hắc Y đến chỗ tạm giữ hai người sau cửa thành, vừa nhìn thấy đã sững sờ.
Nữ tử ấy vừa nghe thấy tiếng động quay đầu nhìn nàng, bên má còn vương một vết máu kinh hoàng. Tóc nàng rối bời, xiêm y tả tơi, không còn chút dáng vẻ ngày xưa. Chỉ khi nhìn thấy nàng, đôi mắt ấy chợt sáng rực, rồi nước mắt lập tức tuôn rơi, gọi: “Du Du—”
Khúc Du theo bản năng chạy về phía nàng, không thể tin được mà gọi tên nàng ấy.
“Vân, Vân Nguyệt…”
Cao Vân Nguyệt cũng vội vã chạy lại, bị vấp vào cạnh bàn. Nam tử bên cạnh nhanh tay lẹ mắt đỡ lấy, chỉ khiến nàng ấy lảo đảo một bước, nhưng chiếc trâm bích ngọc trên đầu nàng ấy cũng vì thế mà rơi xuống đất, vỡ tan tành ngay trước mặt Khúc Du.
——
Sau đây là giải nghĩa thơ từ người dịch.
Tấc ngọc thân xanh chí chẳng mòn, Một đường xuân sắc chẳng đua chen. Ngại chi thân mảnh, gân cốt vững, Xưa nay vật ấy vượt thu hàn.
Sương tuyết đè cành, trần chẳng vấy, Phong ba đối mặt thù mà lay. Khúc nối khúc vang mây ngừng cuộn, Ngẫu hứng ca khúc vọng chư hầu.1. “Tấc ngọc thân xanh chí chẳng mòn” → ví cây trúc có tiết (đốt), rỗng ruột, thẳng cứng, tượng trưng cho quân tử, ý chí kiên cường, không chịu khuất phục.
2. “Một đường xuân sắc chẳng đua chen” → ý nói trúc không cần phô trương trong cảnh xuân rực rỡ. Quân tử sống thanh bạch không bon chen.
3. “Ngại chi thân mảnh, gân cốt vững” → khen vẻ thanh cao, cứng cỏi dù không phồn hoa. Cái đáng quý là nằm ở khí tiết chứ không phải vẻ bề ngoài.
4. “Xưa nay vật ấy vượt thu hàn” → trúc là loài đứng vững trước sương lạnh mùa thu, tượng trưng cho người quân tử kiên trung.
5. “Sương tuyết đè cành, trần chẳng vấy” → dù chịu áp lực, vẫn thanh khiết không nhiễm tục trần.
6. “Phong ba đối mặt thù mà lay” → gặp phong ba nghịch cảnh cũng không chịu khuất phục.
7. “Khúc nối khúc vang mây ngừng cuộn” → tiếng trúc ngân cao, át cả mây trời, tượng trưng cho thanh âm của chí khí.
8. “Ngẫu hứng ca khúc vọng chư hầu” → Đó không phải khoe khoang mà là biểu hiện chí khí và tài hoa của người quân tử ẩn sĩ, dù không cầu danh lợi tiếng tăm vẫn tự nhiên vang xa.
Từ xưa đến nay, trúc vốn là biểu tượng cổ truyền cho thanh, trực, kiên, trung. Trúc chính là chỉ người quân tử, thanh cao mà không phô trương. Kiên định, bền bỉ trong mọi hoàn cảnh. Trong sạch, không bị thế tục làm hoen ố. Giữ vững khí tiết trước phong ba. Tiếng nói, cốt cách vang xa, ảnh hưởng đến người đời.