Từ Thực ngồi ở ghế trên, lấy khăn lau chùi thanh trường kiếm trong tay.
Cây kiếm này tên Long Quang, là do Tiêu Việt năm xưa để lại.
Có thị vệ bẩm báo tiểu Châu đại nhân đến bái kiến, thế là ông vội vàng đặt thanh kiếm xuống, đứng dậy ra cửa đón người.
Châu Đàn cùng Hà Nguyên Khải bước vào cửa, trên người vẫn còn vương vấn hương thơm nồng nàn của rượu.
Hắc Y trầm mặc theo sau, bảo vệ chu toàn. Đi sau cùng là Yên Phục, hắn hớn hở chạy vào, cười hì hì với ông, ân cần tiến lên rót trà: “Nghĩa phụ hôm nay sao lại nổi hứng lau kiếm vậy?”
Từ Thực năm xưa làm phó tướng bên cạnh Tiêu Việt. Tuy là cấp dưới, nhưng Tiêu Việt tính tình hào sảng, thẳng thắn. Đối đãi hai vị phó tướng thân cận là ông và Châu Thứ như là huynh đệ vào sinh ra tử.
Trước trận chiến cuối cùng ở Định Tây, dường như cảm thấy viện binh sẽ không đến, Tiêu Việt đã đưa ông và Châu Thứ ra khỏi Ly Thiều Quan ngay trong đêm.
Danh nghĩa gọi là báo tin, thực chất là gửi gắm con côi.
Từ Thực phi ngựa đến chết hai con tuấn mã mới vào được đại doanh mượn binh. Vừa đến không lâu đã nghe tin Thiều Quan thành bị phá, Tiêu Việt và hàng vạn quân chủ lực Lăng Tiêu quân toàn bộ bị diệt, chôn xương nơi hoang dã.
Ông ngơ ngẩn mở chiếc hộp mà Tiêu Việt gửi gắm, phát hiện bên trong là ấn tín phong địa và huân chương quân công.
Biện Đô giả nhân giả nghĩa gửi câu đối viếng Tiêu Việt. Từ Thực dẫn theo vài ngàn tinh nhuệ còn sót lại của Lăng Tiêu quân tiếp quản phong địa của ông ấy, kế thừa tước Tương Ninh Hầu. Để giữ lại chút tâm huyết cuối cùng của Tiêu Việt, mọi người ẩn danh, luyện binh cũng phải chạy đến sa mạc hoang vắng không người. Ngoại trừ lúc Tây Thiều tấn công thì bảo vệ bách tính, không còn bộc lộ sự nổi bật nữa.
Ngay cả những tiểu quan vô tri ở mười một châu đến khiêu khích, họ cũng nhẫn nhịn cho qua.
Phu nhân của Từ Thực mất sớm, không có con cái. Để đề phòng Biện Đô nghi ngờ, ông dứt khoát dâng tấu, thề rằng đời này không tái hôn sinh con. Hoàng đế quả nhiên rất hài lòng, dần dần quên đi Lăng Tiêu quân đang đóng quân ở Tây Bắc, cũng bỏ qua ông, dẹp bỏ sự nghi kị.
Trong lòng hoàng đế, tàn Lăng Tiêu quân đã không còn làm nên trò trống gì, không thể gây ra mối đe dọa nữa.
Từ Thực tận tụy bảo vệ Lăng Tiêu quân, nhưng ngay cả bản thân ông cũng không biết, rốt cuộc nhiều năm qua ông đang chờ đợi điều gì.
Cho đến khi trong thành Nhược Châu nơi ông ở có một vị Thông phán xuất thân từ Biện Đô đến. Nghe nói đối phương họ Châu, trong lòng ông liền dấy lên một dự cảm mãnh liệt.
Vì cẩn trọng, trước đó ông chỉ phái Hà Nguyên Khải trong phủ Ngô Bôn âm thầm giúp đỡ. Không ngờ Châu Đàn lại tinh anh hơn ông tưởng. Có sự giúp đỡ của ông, chàng như hổ mọc thêm cánh, chỉ trong thời gian ngắn đã thu Nhược Châu vào tay.
Hà Nguyên Khải dẫn người đến gặp.
Lúc đó, niềm may mắn lớn nhất của ông chính là người này là con trai của Châu Thứ.
Châu Thứ năm xưa sau khi ra khỏi Tây Cảnh thì thất lạc với ông. Không biết Tiêu Việt đã gửi gắm điều gì, nhiều năm qua ông ấy chưa từng chủ động tìm đến ông. Ông từng phái người đến Lâm An tìm kiếm, biết tin Châu Thứ đã qua đời vì tai nạn, hai người con trai rời khỏi Lâm An, nương tựa vào họ hàng xa.
Khoảnh khắc Châu Đàn cùng Hà Nguyên Khải bước vào phủ ông, ông liền chấn động.
Tiêu Việt năm xưa lại để lại cốt nhục!
E rằng… ngay cả bản thân ông ấy cũng không biết.
Từ Thực nhìn đôi đồng tử màu hổ phách của đối phương, gần như thất thanh.
Hoàn toàn không cần đối phương đưa ra đan thư thiết khoán chứng minh thân phận. Tống Sưởng và Tiêu Việt nhiều năm không gặp, ấn tượng mơ hồ. Nhưng nơi đây họ sớm tối ở bên nhau, chỉ cần một cái nhìn là có thể nhận ra sự tương đồng.
Mặc dù khí chất của người này là lạnh nhạt u sầu, hoàn toàn khác với sự thẳng thắn hào sảng của Tiêu Việt năm xưa, nhưng Từ Thực dẫn Châu Đàn cưỡi ngựa đến doanh trại xa xôi dạo một vòng, vẫn có không ít lão binh rưng rưng nước mắt quỳ gối trước trướng.
Từ Thực nước mắt lưng tròng gọi chàng: “Thiếu chủ…”
Châu Đàn lại cười lắc đầu, chỉ nói: “Từ thúc, phụ thân ta trước đây thường xuyên nhắc đến ngài.”
Ông mất một lúc mới phản ứng lại, nhận ra “phụ thân” trong lời Châu Đàn có lẽ là Châu Thứ, người đã nuôi dưỡng chàng.
Châu Đàn nói lấp lửng về nguyên nhân cái chết của Châu Thứ, chỉ kể cho ông nghe chuyện đã đối phó với Phó Khánh Niên ở Biện Đô. Cuối cùng, chàng kể hết. Cảnh Vương Tôn là học trò của chàng, nếu có thể thay thế Tống Sưởng và con trai ông ta lên ngôi, họ đương nhiên không có lý do gì để không ủng hộ.
Tương Ninh Hầu phủ đã chết lặng nhiều năm, giờ đây Châu Đàn thường xuyên lui tới, cuối cùng cũng có thêm chút sức sống.
Từ Thực cũng không cần phải lo lắng quan phủ Nhược Châu sẽ dâng tấu lên Biện Đô tình trạng của ông. Nhiều năm căng thẳng, giờ đây tạm thời thở phào nhẹ nhõm. Châu Đàn thường xuyên phái một tiểu binh tên là Tiểu Yên dưới trướng chàng đến truyền lời cho ông. Ông thấy đứa trẻ này thông minh, lanh lợi, liền nhận làm con nuôi, thường xuyên cử đến doanh trại Lăng Tiêu quân rèn luyện.
Một ngày nọ, ông dẫn Châu Đàn và phu nhân chàng cưỡi ngựa đến di tích trận chiến Định Tây năm xưa. Người Tây Thiều đã rút binh mười dặm khỏi nơi này. Ly Thiều Quan tường đổ gạch nát, Bắc Mạc vẫn lạnh lẽo hoang tàn, kết một lớp băng dày.
Châu Đàn xuống ngựa đứng lặng hồi lâu.
Sa mạc phương bắc kéo dài vô tận, chỉ còn lại lớp băng dày trăm trượng trước mắt. Suốt hàng trăm năm qua, số lượng anh linh tử trận ở nơi này nhiều không đếm xuể. Họ vẫn quanh quẩn không rời đi, ngay cả sau khi chết vẫn lơ lửng trên không phận Tây Cảnh, bảo vệ cương vực Đại Dận.
Ông nghe thấy phu nhân Châu Đàn khẽ ngâm trong gió lớn.
“Sóc Phương phong hỏa chiếu Cam Tuyền, Trường An phi tướng xuất Kỳ Liên. Tê cừ ngọc kiếm lương gia tử, Bạch mã kim ki hiệp thiếu niên…” (Lửa đài khói phía Bắc soi tới suối Cam Tuyền, tướng giỏi từ Trường An ra núi Kỳ Liên. Áo giáp kiếm ngọc con nhà lành, ngựa trắng cương vàng bậc thiếu niên hiệp nghĩa…)
Giờ đây, tất cả họ đều tan biến vào trong vùng cát vàng hoang vắng này, không còn tìm thấy chút dấu vết nào.
May mắn thay, con cháu cố nhân vẫn còn đó.
Từ Thực nghĩ đến những điều này, khóe mắt hơi ướt. Yên Phục gọi thêm một tiếng nữa ông mới hoàn hồn, bèn che giấu: “Nhớ lại chút chuyện cũ… Bảo kiếm Long Quang đã phủ bụi trong phủ ta lâu rồi, nhiều năm không còn nhuốm máu. Thanh kiếm này là Tiêu tướng quân năm xưa tặng ta. Hôm nay tên nhóc ngươi đã ở đây thì để lại nó cho ngươi vậy.”
Yên Phục kích động nhận lấy kiếm, ngắm nghía lật đi lật lại một hồi. Châu Đàn rủ mắt nhìn họ rất lâu, lộ ra một nụ cười.
Từ Thực lúc này mới nói: “Bữa tiệc thương nhân của các ngươi, hẳn là rất thành công.”
Châu Đàn chưa kịp trả lời, Yên Phục đã nói: “Tiểu Châu đại nhân và Hà tri châu liên thủ, sao lại không thành công cho được? Sau khi Ngô Bôn chết, thành Nhược Châu vạn tượng đổi mới, đi đâu cũng nghe thấy lời ca ngợi hai người họ. Hôm nay tâm bệnh của các thương hộ cũng được giải quyết. Giờ đây, Nhược Châu thật sự là một khối sắt rồi.”
Hà Nguyên Khải chắp tay vái Từ Thực: “Tất cả đều nhờ ơn đề bạt của Hầu gia năm xưa.”
Từ Thực cười ha hả ngăn lễ của hắn, mời mọi người ngồi xuống: “Các ngươi hôm nay đến là vì chuyện hôn sự của Tiểu Hà phải không? Tiêu Bạch, sao không thấy phu nhân ngươi cùng đến?”
Hà Nguyên Khải vội nói: “Ngày cưới chưa định nên còn chưa gấp… Phu nhân của tiểu Châu đại nhân đã đến nhà nói chuyện với Di Nhiên rồi.”
Yên Phục chen lời: “Quả thực không gấp. Gần đây Hà đại nhân bận rộn chuẩn bị sính lễ cưới hỏi, chỉ đợi sau tiệc thương nhân là đến nhà đưa lễ. Nhưng sau khi đưa lễ, cũng phải mất một thời gian dài để chuẩn bị hôn lễ. Giờ đây, tất cả nữ tử trong thành Nhược Châu đều ngưỡng mộ Vương gia tỷ tỷ. Dù đã thành hôn một lần rồi nhưng Hà đại nhân vẫn hết lòng như vậy.”
Hà Nguyên Khải ho khan một tiếng, thong thả nói: “Đã thành hôn rồi thì sao, chuẩn bị hôn lễ cho người mình yêu, tự nhiên phải dốc lòng hơn. Nữ tử từ thuở nhỏ đã mơ ước có ngày này. Trước đây Di Nhiên chưa gặp được người tốt, ta tự nhiên phải bù đắp hết những tủi thân trước kia của nàng, để nàng nhớ lại hôn lễ này chỉ thấy viên mãn.”
Yên Phục “chậc chậc” cảm thán một phen, quay đầu thấy Châu Đàn đang ngồi trên ghế thất thần: “Tiểu Châu đại nhân, ngài đang nghĩ gì vậy?”
Từ Thực cười trêu chọc: “Tiêu Bạch cũng đang nhớ lại hôn lễ của mình phải không? Ta thấy ngài ấy và Khúc gia cô nương tình cảm rất tốt, trước đây nhất định…”
“Ôi chao, nói đến đây ta mới nhớ ra!” Yên Phục vỗ đùi một cái, rất tò mò nói với Từ Thực: “Nghĩa phụ không biết, tỷ tỷ ta trước đây viết thư kể cho ta. Hôn sự của tiểu Châu đại nhân và phu nhân là do bệ hạ ban. Nghe nói lúc ban hôn, tiểu Châu đại nhân còn bị ám sát, là người khác ôm gà trống bái đường cùng phu nhân.”
Hà Nguyên Khải hơi kinh ngạc: “Lại còn có chuyện này?”
“Lúc đó… bị thương quá nặng, hôn mê nhiều ngày, không rõ sống chết.” Châu Đàn cười khổ giải thích: “Hoàng cung ban hôn là để ta xung hỉ cầu may… Nếu không có phu nhân, ta e rằng ta đã bỏ mạng dưới suối vàng rồi.”
Chỉ vài câu ngắn ngủi đã có thể phác họa sự hiểm nguy của tình cảnh Biện Đô năm xưa. Từ Thực vỗ vai chàng, im lặng không nói. Hà Nguyên Khải thì cảm thán: “Giàu sang tìm trong hiểm nguy. Người ở biên cảnh đều nói Biện Đô là chốn phồn hoa sung túc, con cháu thiên tử lại vô cùng hiển hách. Ai có thể ngờ những nỗi niềm cay đắng trong đó.”
Yên Phục cũng thở dài theo: “Phu nhân quả là kỳ nữ tử. Nếu là người thường được ban hôn như vậy, không biết sẽ làm loạn đến mức nào, càng không dám nói đến chuyện mời người đến cứu mạng…”
Châu Đàn không nói gì. Chàng trầm tư một lúc mới đột ngột ngẩng đầu lên, do dự hỏi Hà Nguyên Khải: “Trong lòng nữ tử, thật sự coi trọng hôn lễ đến vậy sao?”
—
Tây Cảnh đèn đuốc mờ ảo. Khi đêm xuống, sao trời lấp lánh, sáng hơn nhiều so với trong thành Biện Đô.
Lễ hội Cách Lí Lạp đúng vào dịp trăng tròn. Khi Khúc Du hồi phủ, vừa hay thấy một vầng trăng tròn thanh khiết treo cao trên bầu trời, ẩn hiện dưới bóng cây, đẹp đẽ, khiến lòng người xao động.
Hoa hạnh trong vườn đã tàn hết, trên cành lá non mới nhú những trái quả nhỏ xíu. Khúc Du không cho người quét đi cánh hoa hạnh nên cánh hoa tàn trên mặt đất vẫn chưa hoàn toàn hòa vào lòng đất, trông như tuyết mới chưa tan hết.
Nàng vừa bước vào cửa không lâu liền nghe thấy tiếng ngựa hí vang lên trước cổng.
Quay đầu lại, nàng thấy Châu Đàn đứng dưới ánh trăng, khoác lên mình ánh nguyệt hoa bước về phía nàng. Nàng ngẩn người nhìn chàng, mơ hồ nhớ lại lần đầu tiên họ gặp nhau.
Không phải trong phòng tân hôn thoang thoảng hương thơm, không phải cái nhìn từ xa cách nhau bởi bức bình phong trong Tùng Phong Các… mà là trong giấc mơ của nàng.
Châu Đàn trong giấc mơ của nàng không khác gì người trước mặt, chỉ là chàng có vẻ yếu ớt và u sầu hơn. Lần đầu gặp mặt vốn là người xa lạ, đối phương đã cởi tấm áo choàng cuối cùng nhường cho nàng giữ ấm.
Ánh trăng lạnh lẽo như hôm nay, nàng vẫn nhớ mùi máu tươi hòa lẫn với mùi tĩnh thuỷ hương còn vương trên chiếc hạc sưởng đó.
Châu Đàn bước đến gần nàng, sắc mặt có chút không tự nhiên, dường như muốn nói gì đó, cuối cùng lại không nói ra, chỉ hỏi: “Phu nhân đang ngắm trăng sao?”
“Phải đó!” Khúc Du đáp, nhớ lại lời Vương Di Nhiên nói, liền hỏi: “Phu quân có muốn cùng ta ngắm không?”
Châu Đàn vui vẻ đồng ý: “Được.”
Thế là hai người ngồi xuống đình nghỉ mát trong vườn. Hà Tinh mang đến một bầu rượu nho Tây Vực, sau đó cùng mọi người lui xuống.
Khúc Du rót một chén cho Châu Đàn, hứng thú nói: “Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi*… Nhưng chén này là sứ thiên thanh, tuy đẹp, nhưng không hợp. Chàng có biết không, rượu này nên đựng trong chén lưu ly mới thấy được bản sắc.”
*Bồ đào mỹ tửu là rượu nho, còn dạ quang bôi là loại chén ngọc dạ quang khi chứa đầy rượu nho, loại chén này sẽ trở nên trong suốt dưới ánh trăng.
Châu Đàn nhìn sâu vào mắt nàng, nói: “Ngày mai ta sẽ sai người tìm chén lưu ly cho nàng.”
Khúc Du tiện miệng hỏi: “Nếu tìm không được thì sao?”
Châu Đàn nói: “Vì nàng đã từng thấy nên sẽ tìm được. Cho dù thật sự không tìm được ta cũng có thể làm ra cho nàng.”
Khúc Du bị chàng chọc cười, nâng chén rượu ngước nhìn lên: “Ta còn thấy cả những vì sao trên trời nữa.”
Châu Đàn thuận theo ánh mắt nàng, giơ tay che đi những vì sao ở xa, rất nghiêm túc nói: “Nếu nàng muốn ta sẽ đi hái xuống cho nàng.”
Khúc Du cười càng đậm hơn. Nàng đặt chén rượu xuống, đưa tay ôm lấy cổ Châu Đàn: “Đàn lang, sao chàng lại tốt như vậy.”
Nàng hiếm khi gọi chàng là ‘Đàn lang’, lần trước nghe thấy cũng là lời trêu chọc.
Châu Đàn vừa nghe thấy, bỗng cảm thấy má mình hơi nóng.
Hương thơm phấn hoa hạnh thoang thoảng bên cánh mũi. Chàng đưa tay ôm lấy đối phương, thì thầm: “Ta có một chuyện muốn nói với nàng…”
Vừa hay Khúc Du cũng nói: “Ta có một chuyện muốn hỏi chàng—”
Thế là Châu Đàn nhường một bước: “Được, nàng hỏi trước đi.”
Khúc Du siết chặt cánh tay, nhìn chằm chằm vào đôi mắt hổ phách gần ngay trước mặt nàng, thì thầm: “Chúng ta thành hôn đã lâu, nhưng hôm nay ta mới chợt nhớ ra ta chưa từng hỏi Đàn lang, chàng…”
Chàng đột nhiên cảm thấy tiếng tim đập nặng nề như trống dồn.
Dưới ánh trăng, đối phương kề sát, đôi mắt nàng cực kỳ đẹp, phản chiếu ánh sáng bạc lạnh lẽo, mờ ảo trên bầu trời đêm.