Sau Tết Nguyên Tiêu, chẳng cần đợi Châu Đàn dặn dò, Vận ma ma đã bắt đầu rộn ràng sắp xếp phủ đệ, chuẩn bị mọi việc để đến Nhược Châu. Phu quân của Vận ma ma đã mất sớm vì tai họa lũ lụt. Nay bà cùng Đức thúc nương tựa vào nhau, tất nhiên là phải đi theo Châu Đàn và Khúc Du.
Khúc Du ngồi trước án ở Tùng Phong Các, chống cằm nhìn Châu Đàn đánh dấu vẽ vời trên một tấm địa đồ vùng Tây Cảnh.
Trước đây nàng chưa nghĩ thông suốt. Châu Đàn đã lộ thân phận, lại muốn phò tá Tống Thế Huyên, vì sao không ở lại kinh thành, cùng lắm là không còn qua lại với Tống Thế Diễm nữa, vậy cũng có thể dập tắt được nghi ngờ của Đức Đế. Giờ nhìn những ký hiệu chàng đánh dấu trên Tây Cảnh, nàng mới lờ mờ đoán được đôi điều.
Vì một vài lý do, Châu Đàn không hề muốn Tống Thế Diễm kế thừa ngôi vị đế vương. Đại để là hắn từng làm chuyện gì đó vô cùng độc ác khiến Châu Đàn cảm thấy Tống Thế Diễm lòng không màng xã tắc, không xứng làm vua. Phải nói rằng, nhãn quan của Châu Đàn vô cùng sắc bén, dù sao nàng là người biết trước việc sau.
Tống Thế Diễm khi biết tin Đức Đế có ý định phế Thái tử, hắn đã không chút do dự câu kết ngoại bang khởi binh bức cung, không tiếc đánh đổi cả Biện Đô, cũng phải đạt được mục đích của mình.
Một kẻ điên hiếm thấy trong lịch sử.
Tống Thế Diễm những năm này tâm tư sâu sắc, Đức Đế lại đa nghi nên các hoàng tử đa phần đều bị nuôi dưỡng thành vô dụng, không phải chỉ biết vâng lời không hiểu chuyện thì cũng là nhất nhất nghe theo Thái tử.
Cửu hoàng tử, người vốn có mẫu tộc hiển hách, cũng theo cái chết của Phó Khánh Niên mà chìm hẳn, không còn sức tranh đoạt nữa. Châu Đàn một năm qua lạnh lùng quan sát, con cháu Đức Đế quả thực không một ai có được khí phách để tiếp quản thiên hạ này.
Còn Tống Thế Huyên là đứa trẻ được chàng và Tô Triều Từ tự tay dạy dỗ, lại là Trữ quân được Tuyên Đế đích thân chỉ định, tự nhiên được chàng đặt kỳ vọng lớn.
Sau khi Phó Khánh Niên chết, Đức Đế tuy đã cất nhắc Thái Anh như Châu Đàn đã nói để cân bằng triều cục, nhưng Thái Anh là trung thần, không nhúng tay vào tranh chấp ngôi vị. Tống Sưởng yên tâm ban chết cho Phó Khánh Niên là vì tự tin mình có thể bồi dưỡng thêm một người nữa để đối chọi với Thái tử.
Nhưng Khúc Du lại biết, Tống Sưởng e rằng không còn thời gian nữa. Bắt đầu từ năm Vĩnh Ninh thứ mười sáu, hắn đã triền miên trên giường bệnh. Ngũ hoàng tử chưa kịp được bồi dưỡng để trỗi dậy, trái lại còn khiến Tống Thế Diễm nhân cơ hội loại bỏ vài người đệ đệ ruột. Thế là triều cục ngày càng nghiêng lệch, đến nỗi sau này ngay cả Tống Sưởng cũng mất đi khả năng kiểm soát.
Trong tình cảnh này, Tống Sưởng đã triệu hồi Châu Đàn về Biện Đô. Một là sợ chết, hai là hắn thực sự không còn ai đáng tin cậy và có thể phó thác nữa. Lời giãi bày của Châu Đàn trong điện Huyền Đức, xem ra ít nhiều đã để lại vết tích trong lòng hắn.
Tô Triều Từ dần hình thành một phe cánh trong triều, Ngải Địch Thanh nắm giữ thương lộ của Biện Đô, Kim Lăng cho đến thiên hạ, Châu Đàn lại có di chiếu trong tay, danh chính ngôn thuận. Điều duy nhất mà bọn họ còn thiếu chính là binh quyền.
Thái tử phi xuất thân từ thế gia tướng môn. Thượng tướng quân Lý Uy phụ thân nàng ta tuy không có thế lực như Sở Lâm và Tiêu Việt năm xưa, nhưng sau khi kết thân với Thái tử thì đã bãi nhiệm chức quyền thống lĩnh đại doanh, nhưng uy vọng vẫn còn. Chỉ cần Thái tử có thể lấy ra hổ phù, hắn ở đại doanh ngoại ô kinh thành sẽ được kẻ hô người ứng.
Sở Lâm quanh năm đi lại giữa Biện Đô và Tây Cảnh, một lòng chống giặc ngoại xâm, e rằng không có ý niệm quy thuận bất kỳ phe nào. Trước khi Thái tử soán vị, Châu Đàn và những người khác muôn lần cũng không thể thuyết phục ông quy phục Tống Thế Huyên.
Muốn thuyết phục, muốn có binh quyền, Nhược Châu là đất tranh chấp tất yếu.
Trong mười một châu của Tây Cảnh, Nhược Châu có địa phận rộng nhất, dân chúng đông nhất, lại vì quanh năm là tiền tuyến thành trì chống lại Tây Thiều xâm lược nên ít bị tổng phủ mười một châu quản hạt. Thế gia nắm giữ binh quyền trấn giữ Nhược Châu là Tương Ninh Hầu phủ, và Tương Ninh Hầu Từ Thực, chính là cựu bộ hạ của Tiêu Việt năm xưa.
Kể từ khi Tiêu Việt chết trong trận Bình Tây, đất đai luôn để trống, do cựu bộ hạ thay mặt quản lý. Từ Thực nhiều năm nay hành sự kín tiếng, hiếm khi lộ diện. Mặc dù cả nhà âm thầm chuyển đến Nhược Châu trấn thủ, nhưng cũng chỉ điều động một phần nhỏ quân lính riêng để bảo vệ bách tính khi Tây Thiều xâm lược, chứ chưa từng can thiệp vào chiến sự của Sở Lâm ở Tây Cảnh. Dần dà, ngay cả Tống Sưởng cũng sắp quên mất người này, chỉ khi tứ phương chư hầu lên triều diện kiến vài năm một lần, hắn mới cho gọi Từ Thực đến hỏi vài câu.
Từ Thực nắm trong tay bao nhiêu binh lực, ngoài Tương Ninh Hầu phủ không ai hay biết.
Nhưng khi Thái tử soán vị, Châu Đàn đã điều động đại quân giành lại thành Biện Đô. Sử sách không viết quân đội của chàng đến từ đâu chỉ mơ hồ ghi chép là quân đội Tây Cảnh. Khúc Du đoán, đại để chính là sự giúp sức của vị Tương Ninh Hầu này.
Xem ra Châu Đàn lúc rời triều đã tính toán cả việc sau này. Dù chàng không biết Từ Thực có binh quyền hay không, cũng luôn có thể dựa vào thân phận con trai Tiêu Việt mà nắm rõ phòng tuyến Tây Cảnh, kiểm soát Nhược Châu trong tay.
Đáng tiếc, tuy nàng đã thổ lộ với Châu Đàn, nhưng vẫn chưa tìm được cơ hội trao đổi sâu hơn. Nếu tùy tiện bàn luận lớn về quân chính với chàng, e rằng sẽ khiến chàng kinh hãi.
Tương lai ngày tháng còn dài!
Việc quan trọng trước mắt là kiểm kê nhân lực trong phủ. Do Khúc Du trước đây đối đãi khoan dung độ lượng với người hầu, lại thường ban phát lòng tốt nên trong phủ đồng lòng hòa thuận. Dù mọi người đều cho rằng Châu Đàn thật sự bị giáng chức, đều biết Nhược Châu khổ lạnh, nhưng vẫn có không ít người nguyện ý đi theo.
Khúc Du xem xét cẩn thận danh sách của Vận ma ma, cố gắng cắt giảm nhân sự một lượt. Những người còn thân nhân, đặc biệt là những người có bản gia gần Biện Đô, đa số đều được chuyển đến trang viên và tiệm buôn. Nhược Châu đường sá xa xôi, tuy nói là còn có thể quay về, nhưng việc trên đường thay đổi bất thường, nàng e rằng không thể chăm sóc được từng ấy người.
Đức Đế không thu hồi sản nghiệp của Châu Đàn, thế nên nàng đã giữ lại vài lão bộc do Khúc phủ tiến cử để trông coi phủ đệ, đồng thời giao phó tiệm buôn và trang viên cho Ngải Địch Thanh. Dù sao hắn cũng có nhân lực dưới tay, chia sẻ thêm chút quản lý cũng chẳng hề hấn gì.
Bạch gia bản gia nghe tin Châu Đàn sắp đi Nhược Châu, lập tức sai người đến hỏi xem có cần tiền bạc giúp đỡ không. Châu Đàn giữ lại vài gia bộc trung thành, không nhận tiền của họ, trái lại còn gửi ngọc bội chưởng gia cho Bạch Sa Đinh. Diệp Lưu Xuân nhận thay hắn, vì Bạch Sa Đinh gần đây bận rộn quấn quýt Bách Ảnh nên không tìm thấy người.
Theo lời Diệp Lưu Xuân, người này gần đây thay tim đổi mặt, tính đi thi cử, không biết có phải bị Bách Ảnh kích động không. Khúc Du thầm nghĩ, không tồi, theo sử sách thì có lẽ đến năm Châu Đàn trở về kinh, hắn sẽ thi đậu.
Nghe tin Châu Đàn sắp rời kinh, bản gia của Thủy Nguyệt cũng có người đến, nói định đưa nàng về nhà thành thân. Khúc Du hỏi đi hỏi lại xác nhận đối tượng kết thân là biểu ca chất phác lương thiện của Thủy Nguyệt, liền rộng lượng đồng ý, còn thêm cho nàng chút bạc làm của hồi môn, tính toán cho sinh kế của đối phương. Khúc Du giới thiệu nàng với Chỉ Lăng và Đinh Hương, theo họ, cũng có thể làm những công việc khác để kiếm tiền.
Hà Tinh là nha đầu được Vận ma ma mua về từ bọn buôn người từ lâu vì thấy đáng thương. Không có phụ mẫu, không có thân nhân, tự nhiên một lòng chỉ đi theo nàng. Cô bé này tuy ngày thường trầm lặng, nhưng tính tình chững chạc hơn nhiều, làm việc lại tỉ mỉ. Nếu nàng nguyện ý, Khúc Du cũng muốn tìm cho nàng một nơi chốn tốt.
Thấy ngày rời thành càng lúc càng gần, hôm đó Khúc Du sắp xếp ổn thỏa hành lý xe ngựa, lại bất ngờ phát hiện Châu Đàn không ở Tùng Phong Các. Hỏi ra mới biết chàng đã đến Hình bộ.
Nói đến, nàng tuy có ghi danh ở Hình bộ, nhưng chỉ nhúng tay vào một vụ án đã phải rời đi, không khỏi tiếc nuối. Nghĩ vậy, Khúc Du liền thay nam trang, cưỡi ngựa đi đến Hình bộ.
Nàng cuối cùng cũng đã học được cách cưỡi ngựa dưới sự chỉ dạy của Châu Đàn, không cần hao công tốn sức chuẩn bị kiệu xe nữa.
Sau khi buộc ngựa trong sân, nàng đi về phía hậu đường.
Đã đến giờ chính ngọ, cả sân thưa thớt, gần như không thấy bóng người.
Nàng vừa đẩy cửa hậu đường ra, liền thấy phía sau bình phong đối diện cửa có một bóng dáng màu trắng quen thuộc. Châu Đàn cũng không ngờ có người không bẩm báo mà đi thẳng vào, tay cầm bút cứng đờ một thoáng.
Nhìn rõ là nàng, chàng mới khẽ thở phào, tiếp tục viết chữ phía sau bình phong.
Bạch Tuyết tiên sinh.
Khúc Du nhìn bóng dáng chàng chuyên chú cầm bút, tuy có chút ngạc nhiên, nhưng nàng vẫn nhanh chóng hiểu rõ. Tuy bài thơ Châu Đàn viết ban đầu nàng chưa từng đọc qua, nhưng trong sâu thẳm cõi tâm trí, nàng dường như đã sớm biết là chàng.
Hình bộ là nơi thấm đẫm máu tươi, còn ai ngông cuồng đến thế, dám tự xưng là ‘Bạch Tuyết’ nữa đây?
Khúc Du bước lại gần bình phong một bước, ngước mắt nhìn thấy bài thơ nàng và Châu Đàn cùng viết.
Châu Đàn mới đến Hình bộ là vào đầu xuân, bên ngoài thư trai là một rừng trúc xanh tốt, lác đác tuyết trắng rơi lên hoa song khung cửa sổ. Khúc Du dường như có thể tưởng tượng ra dáng vẻ chàng nằm dài trước cửa sổ sau tuyết tạnh đầu xuân, ngẩn ngơ hồi tưởng về những ngày tháng công tử bột năm xưa. Một rừng trúc chính là một trận giang hồ, tiếc rằng những tháng ngày vô ưu ấy, rốt cuộc cũng lặng lẽ tiêu tan như mây khói.
“Áo xanh rượu vấy tân sinh mới, Bạc đầu soi nến đọc thư xưa.”
Những thanh niên mới vào Hình bộ còn chưa thay quan bào sát khí, vẫn mặc áo xanh. Châu Đàn và họ thực chất cũng không chênh lệch bao nhiêu tuổi, nhưng lại cảm thấy như cách biệt một đời. Trong số những thanh niên này không thiếu con cháu quan lại, chưa bị máu tanh nhuốm bẩn, trên người còn vương hương rượu thơm tho. Chàng nhìn những người này, vô cớ cảm thấy tóc mình đã bạc trắng.
Trước khi cây nến đầu tiên ở Nhiên Chúc Lâu được thắp sáng, những cố hữu của chàng đã lần lượt ra đi trong chiếu ngục. Trên điển tịch trong thư trai vẫn còn sót lại ấn chương của cố hữu khi tặng sách năm xưa, thư tay vẫn còn đó, nhưng người thì không hẹn ngày gặp lại.
“Ba xuân từng nghe khúc tuyết trắng, Cô Tô nay lặng tiếng đức tàn vang.”
Châu Đàn từng nhậm chức ở thành Tô Châu, khi đó chàng còn coi như vô ưu vô lo, làm quan cũng rất được lòng người yêu mến, đi đến đâu cũng nghe thấy tiếng ca tụng minh đức vang vọng. Thành Tô Châu ít tuyết rơi, khi chàng ở đó chưa từng thấy. Đến khi trở về Biện Đô mới nghe tin xa đầu xuân năm nay Cô Tô có tuyết mới. Tuyết phủ lấp chuyện cũ, Đức Âm nghe được năm xưa không còn, chỉ đành cười tự giễu.
Còn câu cuối cùng “kiếp tàn hèn mọn” và “nuốt tiếng già đau”, e rằng chính là kết cục chàng đã tưởng tượng ra cho mình trước khi gặp nàng.
Khúc Du cảm thấy khoé mắt cay xè chứa đầy vị mặn chát, nàng đứng sau bình phong, đưa tay chạm vào má Châu Đàn. Châu Đàn nhận ra cử chỉ của nàng, tạm ngưng cây bút trong tay, rất nhẹ nhàng đưa tay qua, cách tấm bình phong mà áp lên tay nàng.
Cách một lớp lụa trắng, đầu ngón tay hai người chạm nhau, Khúc Du lại cảm thấy, chưa từng có khoảnh khắc nào mình xao xuyến đến thế.
Nàng cúi đầu nhìn dòng chữ “sớm chiều gặp nhau” do Châu Đàn viết, biết mình đã tìm được bạn đời tâm giao.
Cảm giác chính là như vậy.
“Biết chàng tiên cốt, chẳng nhuốm nắng sương
Ngàn năm gặp lại, tựa như sớm chiều.”
Nàng cùng Châu Đàn ngồi trước bình phong rất lâu. Thấy chàng rất kiên nhẫn viết hồi âm cho lời tâm sự của tất cả mọi người. Vì là lần cuối cùng, chàng viết rất chậm, thỉnh thoảng lại dừng bút ngẩn ngơ.
Cửa hậu đường đã bị Khúc Du khóa lại, cả buổi chiều không một ai đến. Mãi đến khi trời chạng vạng tối, chàng mới nhấc bút đứng dậy.
Nàng lấy cớ muốn ở lại xem kỹ thêm chút nữa, Châu Đàn đành bất đắc dĩ đi đến thư trai trước. Thấy chàng rời đi, Khúc Du lập tức mò ra tư ấn vừa trộm từ trên người chàng, đóng một dấu lên tấm bình phong thứ nhất, ngay trước bài thơ Châu Đàn viết ban đầu.
Châu Đàn đi rồi, Bạch Tuyết tiên sinh cũng sẽ không tới nữa.
Không biết người Hình bộ bao lâu mới hoàn hồn, chi bằng nàng đóng một cái dấu cho Châu Đàn, cũng đỡ cho mọi người sau này không tin.
—
Đầu tháng ba, Châu Đàn và Khúc Du y trang đơn giản ra khỏi cửa thành Biện Đô rồi đi thẳng về phía tây. Đêm hôm trước mọi người đều đã gặp mặt. Khúc Du còn nhận được vàng thỏi do Thái tử và Thái tử phi gửi đến. Xem ra Tống Thế Diễm vẫn muốn níu kéo Châu Đàn vào phút cuối. Châu Đàn xem xong, cười trừ, niêm phong đồ vật lại rồi chuyển giao cho Cao Tắc.
Cao Vân Nguyệt đứng trên tường thành vẫy khăn tay, Khúc Du dường như còn thấy cả Nhậm Thời Minh và phụ mẫu hắn ở đằng xa.
Gia bộc theo hầu hai người không nhiều, ngoài Đức thúc, Vận ma ma, hai mươi mấy gia đinh và nha hoàn đáng tin cậy, chỉ còn Hắc Y do ông chủ Ngải phái đến kiên quyết đi theo. Hắn võ nghệ cao cường, cũng tốt để bảo vệ an toàn cho hai người.
Châu Đàn lưu luyến ở trước tường thành rất lâu, Khúc Du biết chàng đang đợi ai, nhưng Châu Dương vĩnh viễn không xuất hiện.
Ra khỏi thành đi chưa được bao lâu, khi ngang qua núi Kinh Hoa, Ngải Địch Thanh và Bách Ảnh đã đợi sẵn ở đó, đưa đến cho Châu Đàn và Khúc Du thư tín của Tống Thế Huyên. Cậu không thể ra khỏi tiểu viện Tê Phong nên chỉ đơn giản viết một bài thơ tặng:
“Ngựa trời vượt sông mà xuống nam, Có mấy ai thật là bậc kinh luân? Cha già Trường An, phong cảnh Tân Đình, Đáng thương vẫn như xưa. Những người như Di Phủ ngày ấy, Non sông đắm chìm, có bao giờ ngoảnh lại? Bàn việc bình định biên cương ngàn dặm, Công danh vốn là việc của chân nho, anh biết chăng?
Huống chi nay, văn chương chói sáng như núi Đẩu, Bóng ngô đồng rợp bóng sân, ngày quang sáng tỏ. Năm xưa khi mới sinh ra, Nay hãy xem, phong vân cuộn động. Trên đồng xanh khói sương, cỏ cây Bình Tuyền, Ca hát rượu vui ở Đông Sơn. Chờ mai sau, khi dẹp yên càn khôn, Sẽ cùng nâng chén chúc thọ tiên sinh.”* — Tít dịch thơ.
*Hà Tân Lang · Độ Giang Thiên Mã Nam Lai, một bài từ nổi tiếng của Tân Khí Tật – nhà thơ, nhà yêu nước lớn thời Nam Tống.
Bài từ thể hiện chí khí yêu nước và nỗi đau thời thế của Tân Khí Tật. Ông nhìn lại thời cuộc sau khi Nam Tống rút về phía nam, Trung Nguyên rơi vào tay Kim, nhiều người tài không hành động được, chỉ biết than vãn.
Tân Khí Tật trách nhẹ những người cùng thời chỉ có tài mà không có hành, không dám ra tay cứu nước — đồng thời bộc lộ chí nguyện của chính mình: dù tuổi già sức yếu, vẫn mong có ngày được chỉnh đốn càn khôn, khôi phục thiên hạ, rồi mới an vui mừng thọ bạn hiền.
Châu Đàn đọc xong, nở một nụ cười mãn nguyện. Chàng gấp lá thư lại, giao cho Khúc Du cất giữ, dặn Ngải Địch Thanh mang về một câu “đợi ngày hội ngộ.”
Xe ngựa dần khuất dạng ngoài thành Biện Đô. Châu Đàn vén rèm nhìn lại, thấy mây đen lướt qua đỉnh đầu, bay về phía Biện Đô, bao trùm cửa thành trong một màn u ám.
Mà phía trước, vẫn là trời quang mây tạnh.
Chàng im lặng một lúc, cuối cùng đã nghe rõ bài hát Khúc Du vẫn ngân nga mà chàng chưa từng hiểu.
“Nàng hát là bài thơ của Trường Cát tiên sinh sao?”
Khúc Du không để ý đến chàng, ung dung tự tại ngồi bên ngoài xe ngựa, nhìn về phía trước, miệng tiếp tục ngân nga.
“Ánh sáng trôi qua, mời ngươi uống chén rượu này. Ta không biết trời cao cỡ nào, đất dày đến đâu, Chỉ thấy ngày lạnh, nắng ấm, dần dần hao mòn tuổi thọ con người.
Ăn chân gấu thì béo, ăn chân ếch thì gầy. Thần quân ở đâu? Thiên Đế* há lại thật sự tồn tại ư? Phương Đông trời có cây thần Nhược Mộc, dưới đó có rồng thần ngậm đuốc đi tuần.
Ta sẽ chặt chân rồng, nhai thịt rồng, khiến nó ban ngày không đi tuần, ban đêm không ẩn mình. Như vậy người già không chết, trẻ nhỏ không còn khóc. Cớ gì phải ăn vàng, uống ngọc?
Ai từng thấy Nhậm công tử, cưỡi lừa thần lên trời? Xương cốt Hán Vũ Đế chôn ở Mạo Lăng còn sót lại, Quan tài Tần Thủy Hoàng và cá muối cũng không che được mùi hôi.”
*Thiên Đế là vị thần tối cao trong tín ngưỡng Trung Hoa cổ đại – là chủ của trời đất, đại diện cho quyền lực, trật tự vũ trụ, và thiên mệnh của con người.
Thần quân ở đâu, Thiên Đế há lại thật sự tồn tại ư?
Bài thơ này là Khổ Trú Đoản* (Nỗi khổ vì ngày ngắn ngủi), Châu Đàn thầm nghĩ.
Ngày cùng nàng đàm đạo thâu đêm dưới ánh nến dường như vẫn còn mới ngày hôm qua. Chỉ là mùa xuân đã tới, không cần phải lo lắng vì đêm dài nữa. Ánh sáng ban ngày dần rực rỡ, dù có mây đen giăng kín, cũng nhất định sẽ thấy lại ánh mặt trời.
Việc họ cần làm, chỉ vừa mới bắt đầu.
*Khổ Trú Đoản là một tác phẩm của thi nhân đời Đường – Lý Hạ. Đây là một bài thơ thể ca hành mang tính nghị luận sâu sắc, có thể chia thành ba phần. Phần thứ nhất bày tỏ nỗi cảm thán trước thời gian trôi nhanh, đời người ngắn ngủi, đồng thời hàm chứa quan điểm lý trí về cách nhìn nhận cuộc sống. Phần thứ hai viết về cách hóa giải nỗi đau khổ vì ‘ban ngày ngắn ngủi’. Phần thứ ba phê phán và châm biếm hành vi cầu tiên (tìm cách trường sinh bất tử) đầy ngu muội và hoang đường.
Bài thơ này sáng tác vào thời Nguyên Hòa (806–820). Khi đó, Hoàng đế Đường Hiến Tông (Lý Thuần) mê tín thần tiên, thậm chí phong phương sỹ làm Thứ sử, muốn tìm thuốc trường sinh bất lão. Từ vua tới quan đều chạy theo phong trào này. Khổ Trú Đoản của Lý Hạ là lời châm biếm, phê phán thói mê tín ấy.
——
Tít: Hết quyển 2, vào quyển 3 đôi trẻ sẽ càng ngọt ngào và khăng khít hơn nhé!