Lật Hồng Vũ gọi mấy tiếng Khúc Du mới hoàn hồn, ngước mắt lên liền thấy bóng người thanh mảnh sau tấm bình phong.
Nàng nén xuống sự hoang mang tột độ trong lòng, đứng dậy. Nào ngờ khuỵ gối lâu quá, chân hơi bị tê, nàng liền loạng choạng một bước.
Châu Đàn bước nhanh đến bên cạnh đỡ nàng một cái. Khúc Du bám lấy cánh tay chàng, khập khiễng bước ra khỏi hậu đường. Nàng cố gắng bình ổn lại những suy nghĩ rối ren, hỏi: “Ngài đã điều tra ra được gì rồi?”
“Đỗ phủ gần đây có ba nô tỳ chết.” Châu Đàn đáp gọn gàng: “Đều là đại nha hoàn của Lưu thị. Hai người là vì bị vướng vào chuyện hộ viện ăn trộm mà chết trong ngục Kinh Đô Phủ, một người thì bị bảo là phát điên, bị tống vào kho chứa củi, hai ngày sau thì mất mạng.”
“Đỗ phủ này quả nhiên có điều mờ ám, chẳng phải là tật giật mình hay sao?”
“Lưu thị có bốn đại nha hoàn. Tuy Đỗ phủ đã ém nhẹm tin tức, nhưng vẫn tra được một người đào nô tên là Trân Nhi. Đỗ phủ hiện tại cũng đang truy tìm nàng ta.”
Khúc Du thở dài một hơi: “Vậy còn thi thể?”
Châu Đàn lặng lẽ nói: “Cô đoán không sai. Lưu thị e rằng đã bị Đỗ Cao Tuấn ngược đãi đến chết.”
“Kinh Đô Phủ giấu thi thể trong hầm lạnh, may mắn ta đến kịp, suýt nữa họ đã đem đi hoả táng cùng những thứ khác. Ngỗ tác khám xét sơ bộ đều thấy trên người nàng ta có không ít vết thương cũ. Vết thương chí mạng là vết siết ở cổ, nhưng Ngỗ tác nói cũng có thể là do chết đuối, chiều nay cần tra nghiệm thêm bước nữa, lúc này chưa có kết quả.” Châu Đàn đáp.
Khúc Du gật đầu: “Buổi chiều ta định tới phố bắc một chuyến. Vì đã biết có nô tỳ bỏ trốn, tìm kiếm chắc sẽ nhanh hơn đôi chút.”
“Ừm!” Tay Châu Đàn lướt qua các văn thư trên án, chợt lại cởi chiếc mũ quan của mình, nói: “Lần trước ta đã nói muốn đích thân đến tạ ơn ông chủ Ngải. Nay lại phải nhờ ông ấy giúp đỡ, nhân tiện cùng đi luôn. Cô hãy đi cùng với ta.”
Lần trước Khúc Du và Bách Ảnh còn chưa từng diện kiến ông chủ Ngải. Lần này, Châu Đàn lại miễn cả việc thông truyền, trực tiếp dẫn nàng đến một con hẻm nhỏ hẻo lánh trên đại lộ sông Biện.
Khúc Du bước xuống từ chiếc xe ngựa nhỏ và chật hẹp, theo Châu Đàn đi xuyên qua con hẻm. Đi một lúc lâu mới thấy một cái sân nhỏ, có thể gọi là sơ sài.
Xung quanh sân là hàng rào thô sơ bằng tre. Trong sân bày rất nhiều vật dụng làm bằng gỗ, hình thù kỳ quái, đủ thấy chủ nhân hẳn là rất yêu thích nghề mộc công. Một con mèo béo mập đang ngủ trên bàn gỗ, thấy có người tới cũng chẳng thèm động đậy, chỉ lim dim mắt nhìn một lượt, rồi kéo dài giọng kêu “meo” một tiếng.
Dường như nghe thấy tiếng mèo, một thiếu niên trông chừng chỉ mười lăm mười sáu tuổi từ trong nhà chạy ra. Cậu quở trách con mèo một câu, rồi đến mở chiếc cổng rào gỗ. Vẻ mặt lạnh lùng chợt trở nên có chút khó tin khi thấy Châu Đàn. Đôi môi mỏng hé mở, thốt lên một tiếng: “Lão… Lão sư…”
Người này lại là học trò của Châu Đàn ư?
Châu Đàn khẽ “ừm” một tiếng, hỏi cậu ta: “Ngải tiên sinh nhà con có ở đó không?”
Thiếu niên đáp: “Đang ngủ trưa ạ, nhưng Tô tiên sinh đang ở chính đường.”
Châu Đàn theo cậu bước vào, chợt dừng chân: “Con nuôi con mèo này từ khi nào vậy?”
Thiếu niên liếc nhìn chàng một cái, trên mặt lộ ra vẻ bất an và hoang mang: “Là mấy hôm trước nó nhảy vào sân, Tô tiên sinh không cho phép con nuôi. Nếu Lão sư cũng… thì con sẽ thả đi.”
“Không cần.” Châu Đàn thở dài, nâng tay lên vỗ vai cậu: “Nếu ông chủ Ngải còn đang ngủ trưa, ta sẽ đi gặp Tô tiên sinh của con.”
Khúc Du không biết Tô tiên sinh trong lời chàng là ai, nhưng thấy vẻ mặt Châu Đàn nghiêm trọng, nàng liền không đi theo vào.
Thấy Châu Đàn rời đi, nàng dẫn thiếu niên đến bên cạnh con mèo, đưa tay v**t v* bộ lông mượt mà của nó nói: “Đáng yêu quá. Nó có tên chưa?”
Thiếu niên thấy nàng không hề ác cảm với mèo, trái lại còn rất hứng thú, vẻ mặt căng thẳng mới dịu đi. Cậu cũng đưa tay xoa xoa, thận trọng nói: “Ta vẫn chưa đặt tên. Đây là một con mèo thân thắng như tuyết, lông dài mượt như lụa, cần phải đặt một cái tên thật thanh nhã mới phải.”
Hai người vừa nói xong hai câu đó, Châu Đàn đã dẫn theo một nam tử khác xuất hiện, hắn mặc chiếc lam sam màu lam thẫm thường thấy của học tử bước ra khỏi nhà. Thiếu niên lập tức thẳng lưng, nghiêm chỉnh hành lễ, nói với nam tử kia: “Tiên sinh, sách hôm nay đệ tử đã ôn tập xong.”
Khúc Du nhìn nam tử này lại thấy có chút quen mắt không tả được. Nhưng nàng cố gắng hồi tưởng lại cũng thấy mình chưa từng gặp qua người này, trong lòng đang lấy làm lạ thì Châu Đàn đã mở lời trước, giới thiệu với nam tử kia: “Đây là nội tử của ta.”
Nam tử ấy lập tức giơ tay, hơi cúi người hành một cổ lễ với nàng. Toàn thân hắn toát ra một loại khí chất văn nhân nặng hơn Châu Đàn rất nhiều, sắc mặt có phần lãnh đạm nhưng lời nói cử chỉ lại vô cùng giữ lễ: “Diện kiến phu nhân.”
Khúc Du thấy hắn như vậy, bèn nâng vạt váy đáp lễ, rồi nhìn Châu Đàn với ánh mắt dò xét. Châu Đàn cụp mắt xuống giới thiệu với nàng: “Đây là đồng môn khoa cử của ta, Tô huynh.”
Nam tử tiếp lời: “Tự của ta là Triều Từ, phu nhân không cần khách khí.”
Nụ cười trên môi Khúc Du cứng đờ, thậm chí nàng còn vô thức lùi lại một bước.
Châu Đàn dường như nhận ra sự kinh ngạc của nàng, hơi nghi hoặc nhìn nàng một cái. Khúc Du phớt lờ ánh mắt của chàng, hỏi: “Triều Từ Bạch Đế thái vân gian… Chính là chữ ‘Triều Từ’ này ư?”
Tô Triều Từ đáp: “Chính là vậy.”
Hèn chi lại quen mắt đến thế… Nàng đã từng xem bức họa chân dung của đối phương!
Khúc Du vô thức cúi đầu nhìn xuống, lại phát hiện lúc này cổ tay Tô Triều Từ vẫn còn trống không, không đeo chuỗi hạt phật châu ngũ sắc mà hắn vĩnh viễn mang theo trong bức họa chân dung lưu truyền hậu thế. Mặt hắn như ngọc, mày kiếm sắc sảo, tuy lúc này chưa có râu quai nón, nhưng lờ mờ vẫn nhìn ra dáng vẻ trong sách thư cổ.
Vị Tể phụ thanh liêm từng làm quan Tể phụ hai mươi năm sau khi Châu Đàn chết, người đã diệt trừ bè đảng Bắc Dận, người đứng đầu trong nghiên cứu về nhân vật phong lưu của các Đế sư — Tô Triều Từ… vì sao lại có tư giao với Châu Đàn?
Hai người này trong lịch sử là chính địch sống chết nổi tiếng. Vào giai đoạn cuối của cuộc biến pháp Tước Hoa Lệnh dưới thời Minh Đế, Tô Triều Từ đã chép tay mười tội ác của Châu Đàn, đích thân đưa chàng vào chiếu ngục, rồi sau khi chàng quy ẩn lại phế bỏ phần lớn các điều khoản trong Tước Hoa Lệnh.
Năm năm tâm huyết đổ sông đổ biển, Châu Đàn chết sớm ở tuổi ngoài ba mươi có mối quan hệ mật thiết với sự việc này.
Ngay sau đó, Khúc Du giật mình nhận ra một chuyện khác.
Nàng từ từ chuyển ánh mắt sang thiếu niên bên cạnh.
Châu Đàn sau khi nhậm chức Tể phụ đã nhận không ít môn sinh, mặc dù sau này đa số môn sinh này bất mãn với việc làm của chàng mà chuyển sang dưới trướng người khác, nhưng số người gọi chàng là lão sư không thể đếm xuể.
Tô Triều Từ cùng Châu Đàn đều là Đế sư, nhưng hắn ta không kết bè đảng, cả đời chỉ có một học trò là Minh Đế.
Vậy thiếu niên trước mắt này… chính là Minh Đế sau này! Nếu tính về tuổi tác cũng vừa khớp!
Tiên hoàng Dận Tuyên Đế có hậu duệ đơn bạc, dưới gối chỉ có duy nhất một con trai là Đức Đế. Đức Đế Tống Sưởng thời trẻ không đáng trọng dụng, vừa mới trưởng thành đã gây ra vài ác án ở Biện Đô. Căn cứ vào sử liệu mơ hồ khảo chứng, năm xưa Tuyên Đế chiếu chỉ gọi Cảnh Vương đang ở phong địa về Biện Đô là đã có ý muốn lập trữ.
Tuyên Đế là người lên kế hoạch trị quốc, biết nghe lời can gián, lại cất nhắc Cố Chi Ngôn lên làm Tể phụ, hoàn toàn khác biệt với Tống Sưởng. Thấy con ruột vô đức, việc lập bào đệ cũng không phải là điều không thể.
Sau đó liền xảy ra cung biến nổi tiếng trong lịch sử. Tuyên Đế đột ngột băng hà ở tuổi ngoài bốn mươi. Tống Sưởng cầm di chiếu lên ngôi, tàn sát cả nhà Cảnh Vương.
Khúc Du vẫn nhớ mình từng đọc một bài luận văn, chuyên gia sử học Dận triều đã đưa ra một giả thuyết, Tống Sưởng năm đó sửa đổi di chiếu và bỏ độc giết chính phụ hoàng của mình. Thế nhưng vì không kịp sửa chữ, chữ ‘Đức’ này, nhìn thế nào cũng không giống là Lễ bộ sẽ đặt cho hắn ta.
Tuy Cảnh Vương lúc đó cả nhà đều chết, nhưng Thế tử phi đã liều chết bảo vệ được đứa con. Cảnh Vương Tôn (cháu trai) lưu lạc trong dân gian, mãi đến khi Đức Đế bệnh nặng mới cầm ấn tín Cảnh Vương xuất hiện. Năm xưa Cảnh Vương rất được lòng dân, Cảnh Vương Tôn lại có hai người là Châu Đàn và Tô Triều Từ dọn dẹp triều đình, việc lên ngôi vô cùng thuận lợi.
Thì ra Châu Đàn và Minh Đế quen biết nhau sớm hơn những gì các sử gia đã tưởng. Nếu cứ theo hướng này mà suy đoán, việc Cảnh Vương Tôn năm đó bảo toàn được tính mạng trong cung biến, e là có thể có bàn tay của Cố Chi Ngôn trong đó.
Nàng có bao nghi ngờ chồng chất, bên tai chợt nghe thấy tiếng kẽo kẹt đẩy cửa. Một nam tử thân hình gầy guộc, tóc tai rối bù bước ra khỏi phòng, vừa vươn vai vừa kinh ngạc nói: “Thư đồng nói có khách quý đến đây, ta cứ ngỡ là ai, hóa ra là Châu đại nhân cuối cùng cũng hạ cố quang lâm…”
Đây chắc hẳn là ông chủ Ngải trong truyền thuyết. Hắn trông trẻ hơn so với suy nghĩ của Khúc Du, chỉ chừng hơn Châu Đàn một hai tuổi.
Ông chủ Ngải dụi mắt, lấy một chiếc kính lưu ly cài lên sống mũi, ánh mắt chuyển sang Khúc Du, đột ngột đổi lời: “Ta cứ nghĩ vì sao ngươi không chịu đến, thì ra là cưới được giai nhân như hoa, lưu luyến quên lối về rồi.”
Hắn và Tô Triều Từ ở đây để dạy dỗ Cảnh Vương Tôn, hẳn là mưu thần sau này của Minh Đế. Khúc Du cúi mình vái chào: “Ông chủ Ngải vạn an. Ta họ Khúc, vụ án rơi lầu trước đây đã làm phiền nhiều, đa tạ sự giúp đỡ của ngài.”
“Không phiền không phiền, đệ muội xin đứng dậy.” Ông chủ Ngải cười tủm tỉm nói: “Trước đây ta bị nhiều tạp sự quấn thân, bận rộn làm ăn, không ở trong thành Biện Đô nên không đến gặp đệ muội được, ngàn lần mong thứ lỗi.”
Châu Đàn chau mày hỏi: “Ngươi đi Kim Lăng làm gì?”
Ông chủ Ngải đáp: “Ta còn chưa hỏi gân cốt của ngươi bị lệch lạc chỗ nào mà cuối cùng lại chịu đến gặp chúng ta rồi? Hừ, ta còn tưởng ngươi một lòng lo cho cái chức quan cao lộc hậu của ngươi, cả đời sẽ không bước vào cổng viện này một bước nào nữa chứ.”
“Cảnh Vương Tôn Tống Thế Huyên đứng một bên lắng nghe im lặng, thỉnh thoảng đưa tay v**t v* con mèo trong lòng. Châu Đàn không lên tiếng, lại là Tô Triều Từ nhíu mày hỏi: “Con mèo hoang này, con vẫn chưa thả đi sao?”
“Vẫn chưa ạ.” Tống Thế Huyên nói khẽ.
“Quân tử có ba điều cần lập, bốn điều không được làm, chín điều cần suy nghĩ, ngươi còn nhớ điều thứ hai trong bốn điều không được làm không?”
“Quân tử không cầu lợi nhỏ nhặt, đã cầu tất phải có đạo nghĩa; không làm việc hão, đã làm tất phải có chính đạo.”
Tống Thế Huyên đáp: “Tiên sinh yên tâm, đệ tử nhất định sẽ thả nó đi sớm nhất có thể.”
Tô Triều Từ “ừm” một tiếng, hòa hoãn sắc mặt: “Quân tử có tiết chế, không sa đắm vào vui chơi, như thế mới có thể giữ thân thủ chính. Con cần ghi nhớ.”
Ông chủ Ngải ở một bên nói: “Ai da, nói cho cùng cũng chỉ là trò chơi của trẻ con mà thôi, hà tất phải như thế? Không hiểu các ngươi, những người lớn lên trong thế gia đại tộc hồi nhỏ đã trải qua những ngày tháng gì nữa. Tiêu Bạch, ngươi cũng giống hắn à?”
Châu Đàn nói: “Triều Từ nói tự nhiên là có lý.” Chàng dừng lại một chút, rồi nói tiếp: “Tuy nhiên Tử Khiêm chưa hề đắm chìm, song cũng không cần phải quá hà khắc.”
Tống Thế Huyên ôm con mèo, chợt bước lên một bước, nhìn về phía Khúc Du: “Các tiên sinh không cần tranh cãi. Đệ tử quả thực cũng nuôi không tốt nó… Vừa nãy đệ tử thấy sư mẫu rất yêu quý nó, không biết sư mẫu có nguyện ý thu nhận nó không?”
Ánh mắt cậu long lanh, mang theo chút ý khẩn cầu. Châu Đàn nghiêng đầu hỏi: “Nếu cô bằng lòng thì cứ nuôi, cũng có thể mang qua cho Tử Khiêm ngắm. Nếu không muốn, ta sẽ tìm chủ khác cho nó.”
Minh Đế lúc này tuổi còn nhỏ, dáng vẻ ôm mèo quả thực rất đáng yêu. Khúc Du đưa tay đón lấy con mèo, cười nói: “Ta đương nhiên bằng lòng, Tử Khiêm yên tâm.”
Tô Triều Từ không bày tỏ ý kiến: “Như vậy cũng tốt.”
Tống Thế Huyên nhân lúc hắn quay đầu, lén lút nháy mắt với Khúc Du một cái. Chờ đến khi Tô Triều Từ hoàn hồn, cậu lại cụp mắt đứng nghiêm tại chỗ. Đúng là tâm tính của thiếu niên, Khúc Du bị cậu chọc cười, gãi nhẹ cằm con mèo. Con mèo trong lòng nàng phát ra tiếng khì khò dễ chịu.
“Hôm nay ta đến đây, một là để tạ ơn, hai là có việc muốn nhờ ngươi giúp.” Châu Đàn nói: “Nội tử đã ủy thác người thông báo với ngươi rồi. Vụ án Đỗ Cao Tuấn và Lưu thị nay đã rơi vào tay ta. Có một nhân chứng quan trọng đã trốn khỏi Đỗ phủ, ta muốn mượn sức của ngươi để tìm kiếm một phen.”
Tô Triều Từ dẫn mấy người đi vào trong nhà, tìm một chiếc bàn vuông ngồi xuống. Khúc Du lén lút liếc nhìn xung quanh, phát hiện trong chính đường dán một bức bản đồ lớn về lãnh thổ và bố phòng* của Đại Dận.
*Bố phòng là việc bố trí lực lượng phòng thủ, phòng ngự, hoặc bố trí quân lính, các vị trí chiến lược.
“Việc này không khó. Trước đây ta đã tìm được một số manh mối rồi. Ông chủ Ngải nói. Vừa nói, hắn vừa cố ý hay vô tình liếc nhìn Khúc Du một cái: “Nếu tìm được nhân chứng, ta tự nhiên sẽ ủy thác người giao đến tay Hình bộ.”
Mấy người này hiện tại vẫn chưa biết nàng đã nhìn ra thân phận của Cảnh Vương Tôn, do đó nói chuyện không hề né tránh, nhưng chung quy vẫn nửa kín nửa hở. Khúc Du ngồi trước bàn nghĩ, vì sao hôm nay Châu Đàn lại dám đưa nàng đến nơi như thế này, chẳng lẽ chàng không sợ nàng thực sự nhìn ra được điều gì sao?
Tô Triều Từ và Châu Đàn cùng năm khoa cử, là Bảng nhãn năm đó. Thời gian ra ngoài địa phương làm quan của hai người cũng gần như nhau. Tuy nhiên Tô Triều Từ xuất thân đại tộc ở Biện Đô, cũng chưa từng bái nhập môn hạ Cố Chi Ngôn. Án Nhiên Chúc trước đó, hắn vừa khéo ngừng quan để thụ tang, không bị liên lụy. Trong mắt thế nhân, hắn vẫn đang trong thời gian thụ tang nên việc xuất hiện ở đây cũng không có gì là kỳ quái.
Ông chủ Ngải thì khỏi cần nói. Là chủ nhân bí mật của cả một con phố ở khu phố bắc, chẳng ai có thể liên hệ hắn với Cảnh Vương Tôn mà ai cũng nghĩ đã chết từ lâu.
Nàng biết thân phận của Cảnh Vương Tôn nên việc ba người này ngồi chung với nhau trong mắt nàng chẳng khác nào một cuộc hội họp mưu phản. Nhưng đối với Châu Đàn, chẳng qua chỉ là dẫn nàng đến thăm cố hữu mà thôi.
Khúc Du thở dài một hơi, chủ động né tránh cuộc nói chuyện của họ, quay sang Tống Thế Huyên bên cạnh: “Tử Khiêm đã là học trò của phu quân, vậy hôm nay ta sẽ thay ngài ấy khảo thí ngươi một chút. Nếu trả lời tốt, lần sau ta sẽ có lễ vật tặng ngươi.”
Tô Triều Từ ở một bên kinh ngạc nhướng mày: “Phu nhân cũng hiểu về học vấn ư?”
Ông chủ Ngải kêu lên: “Triều Từ, ngươi hai tai không nghe việc ngoài cửa sổ hả, sao lại không biết đệ muội trước đây cũng là quý nữ tài hoa nhất Biện Đô? Nếu không phải đã là thê tử của người ta, e rằng làm nữ tiên sinh cũng được.”
Khúc Du cười rồi dẫn Tống Thế Huyên rời khỏi phòng.
Sau khi nàng đi, Tô Triều Từ mới hỏi Châu Đàn: “Ngươi tại sao dám đưa nàng ấy đến?”
Châu Đàn không nói gì, ông chủ Ngải mở lời trước: “Phu nhân này của ngươi rất không tầm thường. Trước kia lúc đánh trống ở phố ngự ta đã thấy nàng thú vị, nay gặp lại quả nhiên là thế.”
Rồi lại quay đầu sang nói: “Là ta bảo hắn đưa tới. Vụ án rơi lầu trước đây, nàng ấy đã giúp đỡ rất nhiều. Các cô nương ở Phương Tâm Các nói nàng là người hiệp nghĩa, ta nghe lọt tai, cảm thấy rất an lòng. Có người chăm sóc Tiêu Bạch thì đều là chuyện tốt.”
“Nàng ấy không phải kẻ xấu. Ta đã thử dò xét nhiều lần, nàng không có tâm tư xảo quyệt gì. Khúc Thừa là người đứng trung lập trong đảng tranh, Quý phi cũng vì thế mới mở lời ban hôn. Nàng ấy sẽ không phải là quân cờ của Phó Khánh Niên và Cao Tắc.”
Châu Đàn xoa xoa chiếc nhẫn ban chỉ bạch ngọc trên tay, nói: “Trước đây ta ba lần bảy lượt từ chối hôn sự, sau khi bị ám sát mới bất đắc dĩ phải làm theo. Chăm sóc ư? Không cần chăm sóc. Tìm được thời cơ thích hợp vẫn nên hoà ly thì hơn.”
Tô Triều Từ lặng thinh: “Ngươi không thể cả đời cứ mãi không cưới ai được.”
Châu Đàn cười khổ: “Có gì mà không thể? Việc mà ta và huynh đang làm còn hơn cả lâm vực sâu, dẫm trên băng mỏng, lỡ chân là tan xương nát thịt. Một mình ta thì thôi, hà tất phải liên lụy người khác? Trước khi thành công, chẳng lẽ huynh dám cưới thê?”
Tô Triều Từ đành tiếp tục im lặng.
“Tống Sưởng đã ban hôn, làm sao có thể dễ dàng cho ngươi hòa ly?” Ông chủ Ngải thở dài thườn thượt: “Lần trước ngươi bị ám sát, ta và Triều Từ kinh hồn bạt vía, lại ở tận Kim Lăng, phái một y quan đến còn không kịp. Nếu không nhờ phu nhân của ngươi, làm sao ngươi có thể chịu đựng đến ngày hôm nay? Cố… Cố lão trước khi qua đời đã dặn ta không được bức ép ngươi. Ta thực sự nghĩ đời này ngươi sẽ không bao giờ bước vào cái tiểu viện Tê Phong này nữa. Ngay cả việc nhờ ta giúp đỡ, cũng phải thông qua phu nhân của ngươi. Tiêu Bạch à Tiêu Bạch, ta còn muốn hỏi ngươi, hôm nay vì sao lại chịu đến?”
Châu Đàn hờ hững đáp: “Là ta đã đặt kỳ vọng hão huyền vào hắn mà thôi. Nay kỳ vọng tan vỡ, khó mà tự lừa dối mình được nữa.”
Chàng ngẩng mắt nhìn: “Ta tạm thời có một kế sách, muốn nghe ý kiến của hai người.”
—
Tống Thế Huyên lúc này đã đến tuổi khoa cử của các nam tử bình thường. Cậu không cần khoa cử, nhưng lại phải học nhiều hơn. Khúc Du trò chuyện đơn giản với cậu một phen, phát hiện đối phương tuy còn nhỏ, nhưng kiến thức sở hữu lại bao trùm cả thiên văn lịch pháp, bắn cung cưỡi ngựa, thi phú ca vịnh và kinh nghĩa sách lược.
… Sự giáo dục này quả thực là tinh anh, ngay cả khi Tống Thế Huyên lưu lạc trong dân gian, cậu vẫn được nhận sự giáo dục chính tông của bậc đế vương.
Phần lớn việc này do Tô Triều Từ đảm nhiệm. Hắn xuất thân đại tộc ở Biện Đô, rất thành thạo các loại môn học. Đối với những kiến thức như Tứ Thư Ngũ Kinh và Kinh Sử Tử Tập, lời nói của Tống Thế Huyên có phần mơ hồ. Khúc Du đoán rằng trước đây cậu đã theo Châu Đàn học không ít ở chỗ Cố Chi Ngôn, danh xưng lão sư e rằng đã được định ra từ lúc đó, chỉ là thế nhân không hay biết.
Tống Thế Huyên cũng đã nghe nói về chuyện nàng đánh trống kêu oan một phen, vẻ mặt sùng kính. Khúc Du thực ra lúc đó không ngờ việc này lại được lan truyền đến mức này, khiến nàng mỗi lần gặp ai đều phải kể lại một lượt.
Nàng hỏi xong về tâm đắc học sử của Tống Thế Huyên, bèn ngồi cùng cậu trước bàn gỗ dưới gốc cây, thảo luận về mười cách nuôi mèo.
Châu Đàn lúc đi ra vừa khéo thấy Khúc Du giơ chân mèo lên giảng giải cho đối phương về sự khác biệt giữa ‘đệm chân hồng’ và ‘đệm chân đen’. Tống Thế Huyên nghe rất thích thú, chỉ khi thấy Tô Triều Từ bước ra mới tiết chế lại sự tùy hứng trước đó.
Khúc Du ôm mèo, cùng Châu Đàn khách sáo cáo từ. Trước khi đi, Châu Đàn dường như lại nhớ ra điều gì, hỏi ông chủ Ngải: “Hắc Y trước đó ngươi phái cho ta rất trung thành và đáng dùng, có xuất thân thế nào?”
Ông chủ Ngải không trực tiếp trả lời, chỉ nói lấp lửng: “Hắn tuyệt đối có thể tin tưởng, ngươi dùng làm tâm phúc cũng có thể yên tâm, nhưng đừng phái cho người khác.”
Châu Đàn không nghi ngờ gì, chắp tay tạ ơn. Tống Thế Huyên thò đầu ra sau lưng Tô Triều Từ, mắt nhìn chằm chằm vào con mèo, miệng hỏi: “Lão sư sau này có thường xuyên đến không?”
“Ừ.” Châu Đàn xoa đầu cậu, ánh mắt thoáng qua vẻ mềm mại hiếm thấy. Khúc Du giơ chân mèo lên chào tạm biệt, sau đó cùng Châu Đàn bước ra khỏi con hẻm.
Lúc ra cửa, nàng phát hiện tiểu viện này tuy hẻo lánh, nhưng lại ẩn giấu không ít thị vệ, có người nấp trong lùm cây, có người hóa trang thành người bán hàng rong. Châu Đàn đi ngang qua, đối phương hơi cúi đầu hành lễ mới khiến nàng nhận ra manh mối.
Thảo nào Tống Thế Huyên dám trực tiếp chạy ra mở cửa, nếu không phải người quen, e rằng căn bản không thể gõ được cửa tiểu viện.
Châu Đàn dẫn nàng trực tiếp chui vào một chiếc xe ngựa lạ lẫm ở đầu hẻm, không phải chiếc họ đi tới đây. Trong xe không có phu xe, say khi hai người ngồi lên một lúc mới có người đến, lặng thinh đánh xe rời đi.
Khúc Du gãi bụng con mèo, trong lòng muôn vàn lời muốn nói, nhưng lại không biết phải nói gì. Châu Đàn thấy nàng muốn nói lại thôi, bèn chủ động mở lời: “Cô muốn mang mèo về phủ ư?”
Khúc Du cuối cùng cũng tìm được chủ đề, gật đầu lia lịa, lại nói: “Tử Khiêm bảo con mèo này vẫn chưa có tên.”
Châu Đàn bèn nói: “Vậy cô đặt tên cho nó đi.”
Nhắc đến tên, Khúc Du chợt nhớ ra: “Phải rồi, ta vừa quên không hỏi danh tính của ông chủ Ngải.”
Châu Đàn phát hiện nàng có lòng cầu thị rất mạnh mẽ đối với tên của mọi người, hỏi tên nhất định phải hỏi cho đủ. Nghĩ như vậy, việc nàng hôm nay chỉ xưng mình họ Khúc với ông chủ Ngải đã là một tiến bộ lớn. “Ông chủ Ngải tên lấy từ: ‘Thùy gia ngọc địch ám phi thanh.’”1
1Dịch nghĩa: Tiếng sáo ngọc của nhà ai lặng lẽ bay vang.
2Địch Thanh ở đây nghĩa là tiếng sáo. Họ Ngải (艾) đồng âm với từ Ái (爱) nghĩa là yêu. Tên của Ngải Địch Thanh có thể hiểu là yêu tiếng sáo.
Khúc Du suýt nữa sặc: “Thành ra ngài ấy tên là Ngải Địch Thanh???”
Quả là một cái tên hay của nhà phát minh đại tài.
Châu Đàn không rõ nàng vì sao lại kích động, chỉ đơn giản đáp một câu “phải”. Khúc Du nén cảm giác muốn cười mà ra sức v**t v* con mèo, tiện miệng nói: “Con mèo này trắng như tuyết lụa, rất có duyên với ngài đấy, gọi nó là Tiêu Bạch* đi.”
*Tiêu Bạch cũng là tên tự của Châu Đàn.
Châu Đàn sững sờ. Khúc Du ngẩng đầu nhìn chàng, nói rất nghiêm túc: “Nói ra thì, ta giờ chỉ gọi thẳng tên ngài, nghe có vẻ không cung kính lắm. Ngài cũng chưa bao giờ gọi khuê danh của ta…”
Nàng nói xong thì thấy Châu Đàn đưa tay nhanh chóng vuốt nhẹ một cái lên người con mèo, sau đó quả nhiên lại dời ánh mắt như thường lệ, không nói chuyện với nàng nữa. Cho đến khi xe ngựa đi đến cổng phủ, nàng mới nghe Châu Đàn nói: “… Không có gì là không cung kính.”
“Ồ—”
Khúc Du tháo búi tóc nam tử của mình, tùy tiện búi lại, một tay ôm mèo, chuẩn bị xuống xe. Thấy vẻ mặt đối phương như thường, ác ý trong lòng nàng chợt nổi lên, quyết định trêu chọc chàng một phen. Thế là Châu Đàn liền nghe thấy nàng kéo dài giọng, bình thản gọi một tiếng: “Đàn lang!”
Khúc Du hài lòng quan sát, thấy tuy khuôn mặt trắng trẻo của Châu Đàn không đỏ, nhưng vành tai đã đỏ bừng lên. Thế nhưng chàng vẫn cau mày, giả vờ nghiêm nghị mắng nàng một câu “làm càn”, sau đó chàng thả rèm xe xuống, nhanh chóng dặn phu xe chuyển hướng đến Hình bộ.
Vận ma ma đón Khúc Du vào cửa, thấy vẻ mặt vui vẻ của nàng, không khỏi nói thêm một câu: “Hôm nay phu nhân có vẻ tâm trạng rất tốt.”