*Tên của Nhiên Chúc Lâu, ngoài ra nó có nghĩa là thắp nến.
Ngày hôm sau Khúc Du hiếm khi dậy sớm, dụi mắt đến Đoàn Loan Viện dùng bữa sáng, ăn được nửa bát hoành thánh tôm nõn mới biết Châu Đàn sau buổi chầu sớm sáng nay vẫn chưa hồi phủ mà bị hoàng đế giữ lại.
Thời gian buổi chầu sớm của cổ nhân khi xưa bắt đầu từ quá sớm, thậm chí là bắt đầu từ lúc nàng ở thời đại kia còn chưa chợp mắt sau khi thức khuya. Châu Đàn sau khi tan triều thường sẽ hồi phủ thay y phục rồi mới đến Hình bộ.
Bình thường khi Khúc Du thức dậy, ước chừng Châu Đàn đã xử lý được nửa buổi công vụ rồi. Hôm nay nàng khó khăn lắm mới dậy sớm, định đợi chàng về thay y phục rồi sẽ cùng dùng bữa sáng, kết quả người lại không về.
Khúc Du khuấy bát hoành thánh trong tay ngẩn người.
Chuyện A phù dung… Nếu nàng đột ngột hỏi, theo cái tính đa nghi khó chịu của Châu Đàn này, e rằng không những không nói cho nàng mà còn càng thêm kiêng dè, muốn dò hỏi thông tin thì càng khó.
Nhưng tại sao chàng lại dùng loại thuốc này?
Thời đại này, anh túc không phổ biến ở Biện Đô, hơn nữa Bách Ảnh cũng nói người biết không nhiều, có lẽ chỉ có hoàng thất quý tộc trong cung mới có.
Châu Đàn lần trước phản ứng gay gắt nhưng không chịu uống thuốc, nhất định không phải là tự nguyện.
Nàng đoán… có lẽ đây là Đức Đế ban cho.
Đức Đế Tống Sưởng trong sử sách danh tiếng không hề tốt.
Thời kỳ Vĩnh Ninh tuy bốn bể thái bình, nhưng đây đều là kết quả khó nhọc trị vì của Dận Tuyên Đế tiền triều. Chính sử có nghi vấn về việc Tống Sưởng lên ngôi như thế nào, không ít học giả đã đưa ra giả thuyết, nói rằng Đức Đế từng hạ độc phụ hoàng để đoạt vị.
Những chuyện như thế vốn không có chứng cứ xác thực, chỉ có thể khảo cứu từ hành trạng cả đời của Đức Đế mà thôi.
Đức Đế khi còn là hoàng tử rất siêng năng, chỉ là tính tình đa nghi, tính khí thất thường, sau khi lên ngôi càng nghiêm trọng. Năm Vĩnh Ninh thứ mười, người này từng bãi triều mười ba ngày, lại còn vì chuyện Nhiên Chúc Lâu mà tàn sát sĩ phu phái thanh liêm, để lại tiếng xấu không thể xóa sạch trong sử sách.
Châu Đàn phản bội Cố Chi Ngôn, trở thành tâm phúc của Đức Đế. Ba năm sau Đức Đế lâm bệnh nặng, Thái tử bị phế soán ngôi, Châu Đàn lại phò tá Minh Đế tương lai dẹp loạn cung biến thuận lợi đăng cơ.
Nhưng Minh Đế tương lai không phải hoàng tự của Đức Đế mà là tôn tử của Cảnh Vương, hoàng thúc của hắn. Lập trường Châu Đàn thay đổi liên tục, chắc chắn có ẩn tình lớn bên trong.
Chàng vì bảo toàn tính mạng, hy sinh danh tiếng theo phe Đức Đế, lại còn bị đối phương nghi ngờ, thậm chí ban cho thuốc phiện, làm sao có thể không hận? Sau này chuyển sang phò tá tôn tử của Cảnh Vương cũng là hợp lẽ thường tình.
Nhìn lại cả cuộc đời Châu Đàn, hầu như mỗi bước đều là nước cờ chết không có lựa chọn, không phản sư môn thì khó sống, không phục hàng Đức Đế thì cũng khó mà sống nổi, không mưu tính đường lui thì lại càng không còn đường để mà sống.
Cầu sống trong nước sôi lửa bỏng.
Vài học giả hiếm hoi khi làm nghiên cứu khác đã mơ hồ viết vài lời bình về Châu Đàn, nói người này thiếu khí tiết văn nhân, cả đời chàng đã được định sẵn từ khi không chịu như bao người khác chết trong ngục với khí phách ngạo nghễ thẳng thắn rồi.
Điều này càng kỳ lạ hơn.
Khúc Du cuối cùng cũng nghĩ thông suốt điểm kỳ lạ khi quan sát Châu Đàn những ngày qua là ở chỗ nào. Tất thảy suy luận phía trên đều phải xây dựng trên một tiền đề, đó là Châu Đàn không muốn chết.
Nhưng những ngày nàng tiếp xúc với chàng luôn cảm thấy Châu Đàn thực ra không sợ chết.
Nếu chàng không sợ chết, vậy tất cả những chuyện trước đây nên được giải thích như thế nào?
—
Khúc Du dùng bữa sáng trong lòng đầy tâm sự, lại đi dạo một vòng ở hậu viên cho đến khi mặt trời lên cao, Châu Đàn vẫn chưa hồi phủ.
Nàng đang định sai một thị vệ đến Hình bộ nghe ngóng xem sao thì nhận được tin từ trong cung nói Châu Đàn bị bệ hạ ban thưởng đình trượng, bảo nàng đến cửa cung đón người về.
Khúc Du vội vàng gọi xe, thị vệ nội cung đưa tin dẫn nàng đến trước cửa ngách mà nội quyến quan hoạn thường ra vào khi vào cung.
Bên cạnh là bức tường cung màu đỏ son vừa quen thuộc vừa xa lạ, bức tường cung này trải dài theo tầm mắt, uy nghi oai nghiêm, nhưng nơi này không giống nơi hành lang nhỏ chật hẹp nàng từng mơ thấy trước đó. Tuy là cửa ngách, nhưng gần Đông Môn hoàng thành, nơi đây trời rộng mây cao, muôn vàn khí tượng, thoáng nhìn còn có thể thấy cung điện huy hoàng ở phía xa.
Đây là nơi chứa đựng gốc rễ của trật tự cũ, trung tâm quyền lực phong kiến. Ngay cả lính canh hai bên cũng đứng như tượng đất bù nhìn, trên mặt không thấy một chút biểu cảm nào.
Khúc Du không có cảm nhận gì về việc “Châu Đàn quyền cao chức trọng”, nhưng đứng ở đây, nàng lại vô cớ cảm thấy sự áp bức nặng nề của hoàng quyền.
Tường cung cao vời vợi, điện thờ nhiều vô số kể, cung nhân qua lại bước chân vội vàng, khom lưng thật sâu, tự thu mình lại nhỏ bé hơn.
Xung quanh là một sự tĩnh lặng hoang đường, nàng thậm chí nghe thấy tiếng thở đều đặn của thị vệ.
Sau đó dọc theo bức tường cung kéo dài, nàng nhìn thấy Châu Đàn bước đi loạng choạng.
Chàng không đội mũ lụa*, áo bào hơi rộng bị gió thổi tung khiến cả người trông chao đảo như thể sắp ngã khuỵ ngay lập tức. Chàng cũng cúi đầu, bước đi rất chậm, nhưng khác với cung nhân trước đó, mỗi bước chàng đều dùng lực thật mạnh.
*Tên mũ gốc tác giả dùng là La nhuyễn cân. Không tìm được thông tin cho loại mũ này nhưng nhìn chung nó là một biến thể của loại mũ còn có tên là phốc đầu hay chiết thượng cân. Thoạt đầu nó là một kiểu khăn mũ lụa mềm dùng để quấn quanh đầu, bắt nguồn từ thời nhà Hán. Vì loại khăn mũ này làm từ loại lụa mềm màu xanh đen nên còn được gọi là ô sa/lụa đen. Nó thường được dùng làm một phần trong trang phục khi chấp sự, thượng triều hoặc dự việc có mang tính chất lễ nghi.
Khúc Du thấy bên cạnh chàng có một nội giám lớn tuổi hiền từ, nhưng không hề đưa tay giúp đỡ, nàng không khỏi nhấc váy chạy qua. Thị vệ ở cửa ngách ngẩng đầu nhìn một cái, thấy là Châu Đàn liền không ngăn cản.
Nàng ba bước gộp thành hai bước chạy tới, giống như hai lần trước đỡ lấy cánh tay chàng. Châu Đàn rõ ràng có chút kinh ngạc, nhưng cũng như trước, không đẩy nàng ra, thậm chí còn áp một bàn tay lạnh buốt lên tay nàng, ra hiệu cho nàng thả lỏng: “Ta không sao.”
“Vị này hẳn là Châu phu nhân phải không?”
Vị nội quan lớn tuổi kia cúi chào nàng một cái, nét cười trong mắt rất đậm: “Bệ hạ phân phó tiểu nhân dìu Châu đại nhân ra ngoài nhưng Châu đại nhân không chịu, khăng khăng muốn tự mình đi, làm phiền phu nhân chăm sóc. Đã đến nơi này, tiểu nhân xin trở về phục mệnh.”
“Làm phiền rồi.”
Châu Đàn giơ tay hờ hững hành lễ với ông ta, Khúc Du liền cúi người chào theo. Nàng đỡ Châu Đàn đi được vài bước, cảm thấy hơi khó nhọc liền dứt khoát vắt cánh tay chàng lên vai mình.
Làm như vậy, nàng mới chạm vào lưng áo ướt đẫm của Châu Đàn, không biết là mồ hôi lạnh hay máu.
Tư thế này thực sự thân mật, nửa người Châu Đàn đều tì lên vai nàng, chàng đi được vài bước, hoàn hồn lại, khó khăn nói: “Đa tạ.”
Khúc Du lười khách sáo với chàng, vừa đi vừa hỏi: “Bệ hạ vì sao phạt đánh ngài?”
Nàng vốn tưởng Châu Đàn sẽ không trả lời, không ngờ đối phương im lặng một lát, thực sự cười nhẹ một tiếng, đáp: “Là ta đối với người đó…”
Lời còn chưa dứt, xung quanh trống trải đột nhiên vang lên một tiếng chuông trầm đục.
Nụ cười của Châu Đàn trước đó mang ý tự giễu, nghe thấy tiếng chuông này nụ cười liền đông cứng trên môi. Chàng dừng bước, chậm rãi quay đầu nhìn lại, Khúc Du theo ánh mắt chàng, thấy một điện thờ cao lớn sáng rực.
Đang là ban ngày, sau khi chuông vang, trong điện cao lại hàng loạt hoàng môn ùa ra, họ thắp nến khắp trong ngoài cung điện này. Sau đó cung điện dưới ánh nắng mặt trời càng thêm huy hoàng rực rỡ, như sắp bùng cháy.
Khúc Du nhìn cung điện này, lòng bỗng dâng lên một cảm giác chấn động quen thuộc, nàng không kìm được khẽ lẩm bẩm: “Đây là…”
Châu Đàn thu hồi ánh mắt, đồng tử màu hổ phách hoàn toàn lạnh xuống.
“Nhiên Chúc Lâu.”
Khúc Du khẽ hé mở miệng, nàng nhớ lại bài phú nổi tiếng chàng từng viết.
…
“Năm Vĩnh Ninh thứ mười lăm, hoàng đế kiến lập Nhiên Chúc Lâu nơi Đông Môn. Năm ấy thiên hạ thanh bạch khởi đầu, vạn vật đổi mới… Ngọc chưa thành khí, song ngày lộ diện cũng chẳng còn xa. Ngựa Đồ Lô chưa tung vó, chỉ chờ một khắc ngàn cân. Thần ngẩng đầu trông mây xa, nghe tiếng chuông mà cảm thán. Nguyện cho chốn về của bọn hậu sinh, trở thành nơi cao nhã khắp thiên hạ — Thuở ấy là ngày mồng năm, tháng giêng.”