Người của Hình bộ làm việc quả là hiệu suất cao, chỉ chưa đầy nửa ngày đã tra ra chiếc trâm hoa ấy quả thật được mua tại tiệm của tay thợ họ Lưu, mà người mua chỉ ghi lại họ mà thôi, là một người họ Cốc, còn người kia họ Yên.
Nữ nhân họ Cốc tên đầy đủ là Cốc Hương Huỷ ở ngoại ô kinh thành. Phụ thân nàng vốn là tá điền trong trang viên ngoại ô, song hình như gặp phải tai ương, cả nhà đã không còn lại ai từ mấy năm trước.
Cốc Hương Huỷ ắt hẳn sau khi gia đình tan tác cũng lưu lạc chốn phong trần, trở thành kỹ nữ hạng thấp của Phương Tâm Các tại khu phố bắc.
Lầu xanh ở khu phố bắc hoàn toàn khác biệt với Xuân Phong Hóa Vũ Lâu nơi Châu Đàn từng dẫn Khúc Du đến trước đây. Xuân Phong Hóa Vũ Lâu nằm giữa phường Hiển Minh và hoàng thành, gần sông Biện. Sát Phàn Lâu, các cô nương trong lầu đa phần là quan kỹ của Giáo Phường Ti, có tài có sắc, lại có cả hoa khôi nương tử như Diệp Lưu Xuân, khiến cả giới sĩ nhân trong thành phải kính nể ba phần.
Thế nhưng khu phố bắc lại gần bến tàu, trong phường và ngõ hẻm đa phần là những người làm công, trong các lầu xanh như Phương Tâm Các, những nữ tử tan cửa nát nhà bị bán đi kiếm tiền, nợ nần chồng chất không sao kể xiết.
Vốn dĩ đây là chốn hỗn tạp không yên, danh sách kỹ nữ cũng không nghiêm minh như các khu phố trung tâm, mụ tú bà ngoài những nội dung đã ghi vào sổ sách, lại hoàn toàn không biết gì về Cốc Hương Huỷ.
Sau đó, Châu Đàn lại lần lượt thẩm vấn thêm ba bốn người có liên quan đến Phương Tâm Các. Án này là do thượng lệnh chuyển từ Kinh Đô Phủ xuống, để tỏ sự coi trọng, tất cả đều do chàng và Lương An đích thân thẩm vấn.
Khúc Du được sắp xếp ở hậu đường của Hình bộ đã xem xong lời khai của mụ tú bà. Nàng trước đó đã đánh tráo y phục của một tiểu lại, sợ Lương An nhìn ra manh mối nên không theo vào nghe thẩm vấn.
Trong hậu đường ngoài nàng ra còn có một thanh niên cũng mặc y phục tương tự, trông chừng chỉ ngoài hai mươi tuổi, vô cùng nhiệt tình bắt chuyện với nàng: “Huynh đệ, trước đây ta chưa từng gặp ngươi, ngươi là người do Châu đại nhân mới chiêu mộ ư?”
“Đúng thế.” Khúc Du qua loa đáp.
Người kia vẫn còn đang hăm hở nói: “Ta được phụ thân ta đưa đến đi theo Lương An đại nhân, cũng mới đến được một tháng thôi, nhưng thâm niên vẫn hơn ngươi chút. Ta là Lật Hồng Vũ, nếu ngươi không ngại cứ gọi ta một tiếng đại ca. Ôi chao, chúng ta vừa mới đến đã gặp phải vụ án như thế này, quả là phi thường, ta nghe nói…”
Hắn lải nhải không ngừng ở phía sau, nhưng Khúc Du lại bị một tấm bình phong màu trắng như tuyết trước mặt thu hút.
Tấm bình phong này được làm từ lụa trắng và khung gỗ đàn hương, là một tấm bình phong trơn, chỉ có mặt đầu tiên hướng về phía nàng có lác đác vài hàng chữ. Nàng thấy thú vị nên thuận miệng hỏi: “Tiểu Lật huynh đệ, sao tấm bình phong này lại có người viết chữ lên vậy?”
“Ồ, cái này à?” đối phương nhiệt tình giải thích: “Cái này chắc ngươi không biết rồi, tấm bình phong này vốn là vật chứng của một tên tội phạm sau khi giết người đã thay bề mặt tấm bình phong để che giấu vết máu, nhưng khung gỗ vẫn còn sót lại dấu máu. Tên tội phạm đó đã bị tống giam, ba tháng trước Châu đại nhân đến Hình bộ đốc thúc chỉnh đốn nội vụ, tạm thời lượm nó ra đặt ở đây, vốn định xử lý nó nhưng đêm đó lại có người đề một bài thơ lên.”
“Lại có chuyện phong nhã như vậy? Người đề thơ là ai?”
“Chà! Bài thơ đó khiến cả Hình bộ bàn tán, tiếc là ta là người thô kệch, đọc không hiểu.” Lật Hồng Vũ gãi gãi đầu, hề hề cười nói: “Có mấy huynh đệ và mấy tỷ tỷ hiếm hoi cai quản nữ tù kể cho ta nghe đó, từ sau đó họ thường xuyên đến hậu đường này, viết chữ lên tấm bình phong ấy. Người ban đầu viết thơ cũng đã hồi đáp lại họ, mọi người đều gọi người đó là Bạch Tuyết tiên sinh, nghe nói người này cực kỳ tốt bụng, chỉ vài lời đã có thể an ủi lòng người.”
Khúc Du nghe thích thú: “Vậy sao bây giờ tấm bình phong này lại vẫn còn trống trơn một mảnh?”
Lật Hồng Vũ đáp: “Bạch Tuyết tiên sinh đã lâu lắm rồi không đến, có người đoán là chữ trên tấm bình phong được dựng trước đã bị viết kín, tiên sinh không còn chỗ để hạ bút nên mới vội vàng thay một tấm khác. Quả nhiên, không lâu sau Bạch Tuyết tiên sinh đã viết một bài thơ lên, nhưng bài thơ này lại thiếu câu cuối, mấy người thường hay đến không thể bổ sung vào, gần đây đang nghiên ngẫm, tạm thời chưa dám mạo muội viết gì khác.”
Khúc Du bước đến trước tấm bình phong, định thần nhìn vào hàng chữ không lớn kia.
Bạch Tuyết tiên sinh dùng nét chữ tiểu khải trâm hoa của Bạch Tuyết tiên sinh viết thật sự thanh nhã, phi phàm, lạc lõng giữa hậu đường Hình bộ thoang thoảng mùi máu tanh. Vật này tuy có vẻ lạc lõng, nhưng người ấy lại có thể tĩnh tâm làm thơ.
“Cửa quang1 phủ tuyết, thân vắng sự, Buông cương gác kiếm mộng giang hồ Áo xanh rượu vấy tân sinh mới, Bạc đầu soi nến đọc thư xưa.
Ba xuân từng nghe khúc tuyết trắng, Cô Tô2 nay lặng tiếng đức3 tàn vang. Kiếp tàn hèn mọn, tiễn ngày theo nắng.” — Tít dịch thơ.
*1 Nguyên văn là (晴竹) mang nghĩa cây trúc dưới bầu trời quang đãng. Vì không thể chuyển thơ cho vần nên đã lược bớt từ trúc.
2 Cô Tô: Tên cũ của Tô Châu.
3Tiếng đức: Chỉ lời nói tốt đẹp, thiện ý. Cũng ngụ ý về đức hạnh, danh tiếng của một người.
Nàng chầm chậm ngâm, trong lòng không khỏi khen thầm một tiếng.
Người này có vài phần văn khí, thơ viết không kém cạnh mấy danh gia trong triều, song lại chưa từng được lưu truyền, nàng quả thực chưa từng đọc qua bài thơ này.
Bạch Tuyết tiên sinh là ai?
Khúc Du ngay lập tức nghĩ đến Châu Đàn, chàng vốn có tài hoa hơn người, nhưng bài thơ này không có trong Xuân Đàn Tập, Châu Đàn lại lãnh đạm và cao ngạo với mọi thứ như vậy, chắc chắn sẽ không làm những chuyện này.
“Tấm bình phong này… bất cứ ai cũng có thể hạ bút ư?”
“Được, được chứ, huynh đệ muốn bổ sung một câu sao? Bên kia có bút mực đấy.” Lật Hồng Vũ thấy nàng cứ mãi nhìn bình phong liền xoay người đi về tiền sảnh. “Vậy ngươi tùy ý đi, ta vào xem Lương đại nhân có dặn dò gì không.”
“Được.” Khúc Du qua loa đáp một tiếng.
Nàng lấy bút mực trên án, viết thêm một đoạn vào cuối bài thơ:
Còn nghe Bạch Tuyết giữa xuân, Đâu còn tiếng đức Cô Tô thuở nào. Kiếp tàn hèn mọn đếm ngay trôi, Về thôi nam thửa, sớm trưa cày bừa. — Tít dịch thơ.
Khúc Du rất hứng thú với văn hóa truyền thống, đã học thư pháp gần mười năm, văn sử triết đều tham khảo nhiều, cũng miễn cưỡng đối được một câu, nàng quả thật rất thích bài thơ này, nhưng sau khi tự mình bổ sung lại cảm thấy có chút không hợp vị.
Bạch Tuyết tiên sinh làm thơ, trong cảnh tươi sáng lại mang theo ba phần bi tráng, câu nàng thêm vào lại dường như quá đỗi nhẹ nhàng, khoáng đạt, có phần lệch pha với những câu trước.
Nhưng qua từng con chữ của đối phương đều toát lên vẻ thê lương, sầu muộn, nàng thấy đau lòng, chỉ mong người ấy khi nhìn thấy câu này có thể miễn cưỡng thông suốt hơn được phần nào.
Khúc Du thở dài trước bài thơ, rồi lại nhớ đến lời khai vô giá trị của mụ tú bà, lại nghĩ đến sự hoài nghi chợt thoáng qua khi biết được họ của Cốc Hương Huỷ hôm qua.
Châu Đàn… là một nịnh thần trong sử sách.
Nàng là người học sử, lẽ tự nhiên biết rằng sử sách không thể tin hoàn toàn, nhìn người cũng phải xem xét cả hai mặt, nhưng những ngày tiếp xúc này, e rằng đã khiến nàng vô thức hình thành một định vị tâm lý vi diệu về Châu Đàn.
Có lẽ là nịnh thần, nhưng không tệ đến thế.
Thế nhưng chàng hầu như chưa làm chuyện gì đặc biệt, thậm chí lời lẽ còn lạnh nhạt, thờ ơ với nàng. Cô nương kia hẳn là quen biết Châu Đàn, nghi vấn về Châu Đàn rất lớn, tại sao nàng lại vô cớ giải tội cho chàng trong lòng?
Khúc Du men theo ý nghĩ này mà suy xét, nếu Châu Đàn quả thực là một trong những người hãm hại Cốc Hương Huỷ hoặc cũng không phải hãm hại, chỉ là ngầm cho phép quyền quý trêu đùa. Sau khi Cốc Hương Huỷ chết, chàng chủ trì vụ án, chỉ cần nhẹ nhàng ra tay, dù có khui ra chuyện xấu hổ gì, cũng có thể ém nhẹm hết thảy, đúng như những gì dã sử ghi chép.
Một suy nghĩ rất hợp lý, nhưng nàng vẫn cảm thấy Châu Đàn sẽ không làm chuyện như vậy.
Khúc Du đứng tại chỗ miên man suy nghĩ, ngẩng đầu lên lại chợt nhận ra có một bóng người sau mặt tấm bình phong mỏng manh.
Châu Đàn đang đứng lặng yên ở ngưỡng cửa, không biết đã đứng đó bao lâu.
Thấy nàng hoàn hồn chàng mới bước đến gần, nhìn thấy chữ viết của nàng trên tấm bình phong, hơi sững sờ.
“Sao ngài lại ra đây, thẩm vấn xong cả rồi ư?” Khúc Du ho nhẹ một tiếng, dằn những suy nghĩ hỗn loạn của mình xuống. “Này, ngài có từng để lại đôi lời lên tấm bình phong này chưa? Ngài có biết Bạch Tuyết tiên sinh này là ai không?”
“Ừ.” Châu Đàn trả lời thắc mắc của nàng rồi liếc mắt sang một bên, lạnh lùng nói: “Ta làm sao biết là ai, lời lẽ sáo rỗng, than thở chẳng lý do.”
Tuy chàng nói là than thở chẳng lý do, nhưng rốt cuộc cũng chưa từng sai người ta dọn tấm bình phong đi.
Khúc Du cảm thấy mình đã quen thuộc với phong cách làm việc hai mặt của chàng.
Nàng đi vòng qua tấm bình phong, chuyển đề tài hỏi: “Có thu hoạch gì không?”
“Tay chân và tên chạy vặt của Phương Tâm Các giữ kín miệng, không nói gì cả, nhưng mấy tên ăn mày và mấy tên đầu đường xó chợ trước cửa lầu lại nhận ra người họ Yên kia.” Châu Đàn nói: “Là tình nhân của cô nương đã chết ấy, ta đã cho người vẽ phác họa đơn giản theo lời mô tả của họ.”
Thì ra Bắc Dận đã có kỹ năng phác hoạ như vậy rồi!
Khúc Du nhận lấy cuộn tranh trên tay chàng, nghi hoặc nói: “Chúng ta là nhìn trâm cài mà biết, thế nhưng sao mấy tên ăn mày và những tên đầu đường xó chợ này sao lại biết người này họ Yên?”
“Mấy tên chạy vặt ở cửa đều gọi người này là Yên công tử. Yên công tử thường ngồi xe ngựa đến, hiếm khi đi bộ, chỉ dẫn theo mỗi cô nương họ Cốc nên chúng đoán là tình nhân của nàng ta.”
Khúc Du gật đầu, cúi xuống nhìn: “Ơ… bức họa này có vẻ hơi sơ sài?”
Chỉ có y phục mà không có mặt.
“Đây là áo quan viên cổ tròn, mũ cài ngọc bích, đôi khi còn có áo choàng cổ đứng.” Châu Đàn đưa tay chỉ. “Người ăn mặc như vậy không nhiều, nhưng ta lại thấy quen mắt.”
Khúc Du dựa theo mô tả của chàng mà nhận ra bức tranh sơ sài ấy, phát hiện chính mình cũng từng gặp qua: “À, hắn… là người của Điển Hình Tự?!”