Khúc Du nghe thấy phía sau vọng lại một tiếng kẽo kẹt khe khẽ.
Gió luồn qua khung cửa chạm khắc hoa văn, thổi mở toang cánh cửa sổ. Trong phòng vốn quẩn quanh hơi rượu và hương trầm, cơn gió mát lành thổi vào, dường như cả ánh xuân cũng theo đó ùa vào.
Nhã gian này không có ban công nên mái hiên đã được sửa lại trên cửa sổ, góc mái vút cao, treo một chiếc chuông vàng và một tấm thẻ gỗ mộc mạc.
Cao Vân Nguyệt chống cằm, ngắm mấy cành hoa hạnh vương vít trước cửa sổ khi Khúc Du bước vào, nàng đưa tay rót một ly rượu mai, nói: “Tháng ba, ánh xuân say đắm lòng người đến vậy, hẳn là hoa hạnh trong Chiêm Đài phủ nở còn đẹp hơn cả ngoại thành kinh đô.”
Khúc Du ngồi cạnh cửa sổ, không vội đóng cửa lại, nàng hơi thất thần ngước nhìn chiếc chuông đung đưa trong gió và ba chữ Khánh Xuân Trạch khắc trên thẻ gỗ, hồi lâu mới chậm rãi hỏi: “Chiêm Đài phủ?”
“Chiêm Đài phủ là nơi tổ chức yến tiệc khai xuân năm tới, mời hết thảy tân khoa học tử đến dự, mấy vị đại nhân trong Chính Sự Đường, Cố tướng, Phó chấp chính, Lạc tướng công và cả phụ thân ta nữa đều sẽ đến đó. Nghe nói năm nay, Thái tử điện hạ đã cầu xin thánh thượng ban ân, cũng sẽ ngự giá Chiêm Đài phủ.” Cao Vân Nguyệt đáp: “Quỳnh Lâm Dạ Yến của Chiêm Đài phủ chẳng phải là hôm nay sao? Cô lại không hề hay biết.”
Nàng nhấc vạt áo lụa màu xanh ngọc biếc, khoan thai bước tới, đưa tay khẽ khẩy chiếc chuông gió nơi góc mái hiên: “Lúc chúng ta ra khỏi thành nghe tiếng vó ngựa ngoài kiệu, đa phần là những sĩ nhân học tử ấy đang cùng ân sư phô trương qua phố đấy thôi… ‘Xuân phong đắc ý, vó ngựa phi nhanh’, hôm nay Phàn Lâu chật kín người, ắt hẳn có rất nhiều cô nương cũng muốn được ngắm nhìn một phen khi các học tử đi dự Quỳnh Lâm Dạ Yến.”
Khúc Du có vẻ chẳng mặn mà: “Có ý nghĩa gì đâu, chi bằng dậy sớm đi bẻ một cành hoa hạnh còn vui vẻ hơn.”
Cao Vân Nguyệt giận nàng không nên thân: “Nếu có thể có được một cành hoa hạnh trong Chiêm Đài phủ, đó mới gọi là vẻ vang.”
Khúc Du liếc nàng một cái, trêu chọc: “Sao nào, Vân Nguyệt đây là muốn xuất giá rồi chăng? Ta nghe nói Thái tử điện hạ vì cứu biểu muội bị rơi xuống nước nên đã bãi bỏ hôn ước với cô rồi.”
“Tạ ơn trời đất, thuở đó nói phải gả vào Thái tử phủ, ta ôm ca ca khóc ròng rã ba ngày, phụ thân còn phái năm vị ma ma dạy ta quy củ, thật sự là mọi mơ mộng đều tan tành, cảm thấy đời này coi như xong rồi… Điện hạ tất nhiên là phú quý vô cùng, chỉ là tính cách của ta không hợp với hoàng thất mà thôi.”
Cao Vân Nguyệt dùng chiếc khăn lụa có hoa văn sóng nước trong tay quất nhẹ vào nàng: “Lời này ta chỉ dám nói với cô, cô chỉ biết cười ta, sao không lo cho chính mình?”
Khúc Du vô vị nói: “Hôn nhân đại sự do phụ mẫu quyết định, do lời lẽ của bà mai, ta quan tâm có ích gì?”
Cao Vân Nguyệt hiếu kỳ truy vấn: “Sao, lẽ nào cô không muốn tìm một phu quân tâm đầu ý hợp?”
“Tâm đầu ý hợp…” Khúc Du lặp lại bốn chữ này, bất lực cười nói: “Thôi, nam tử trên đời này nhiều vô kể, có thể kết duyên gặp mặt được đã ít nói gì đến người tri kỷ tâm đầu ý hợp. Đại để là, có thể gặp nhưng không thể cầu vậy.”
Nàng vừa nói, vừa nghe thấy trên lầu dưới lầu truyền đến một tràng kinh thán mơ hồ. Cao Vân Nguyệt thò đầu ra ngoài, chỉ vào dải lụa đỏ đang bay phấp phới quấn trên yên ngựa: “Là Cố tướng dẫn học trò của ông ấy đến rồi.”
Cố Chi Ngôn là người đứng đầu của sĩ nhân thiên hạ, là vị trung thần thanh liêm được triều đình và dân chúng đồng lòng khen ngợi, không chỉ văn tài rực rỡ mà còn là nguyên lão hai triều, rất được kính trọng.
Khúc Du ở nhà cũng thường nghe phụ thân nhắc tới, nói Cố Tướng hay đến chỗ ông điều duyệt sử sách, phong thái thanh cao thoát tục, chỉ cần trò chuyện đôi ba câu, đều khiến người ta cảm thấy như đắm mình trong gió xuân.
Khúc Du nói: “Ta nghe nói Cố tướng hình như rất ít khi nhận học trò.”
“Đúng vậy, sĩ nhân học tử ai nấy đều muốn nhận Cố tướng làm lão sư, nhưng người được ngài ấy gật đầu, có thể hành lễ bái sư, ba năm năm mới có được một người chăng. Người trước đây là Kiều đại nhân, người từng trị thủy ở Giang Nam và nhận được vạn dân tán, cách đây một thời gian còn có Lận đại nhân đã tuẫn quốc ở Nhược Châu, vị này…”
Khúc Du trông thấy phía sau Cố Chi Ngôn xa xa có một bóng người cao gầy thanh thoát đi theo, chàng mặc chiếc áo lụa lan sam màu sẫm giống như các sĩ tử khác, lộ ra một phần màu đỏ phong lưu nơi cổ áo, dùng trâm bạch ngọc búi tóc, thắt đai lưng ngọc. Cách ăn mặc vô cùng phổ biến, nhưng người đó dù đang cưỡi ngựa lưng vẫn thẳng tắp, khí chất cao ngạo thanh nhã, tựa như cây trúc thẳng tắp nhất trong rừng.
Nàng còn chưa kịp nhìn rõ dung mạo người đó, Cao Vân Nguyệt đã ghé sát tai nàng thì thầm: “… Vị tân học trò này của Cố tướng thật phi phàm, là Trạng Nguyên lang duy nhất đỗ đạt liên tiếp ba lần Tam Nguyên kể từ khi Bắc Dận khai quốc đến nay. Tiểu Tô công tử nhà Tô đại nhân, người từ nhỏ đã tài hoa đứng đầu Biện Đô, trước kỳ thi Đình vẫn luôn kiêu ngạo, không thèm để mắt tới ai, sau khi thi xong không chỉ nhường lại vị trí thủ khoa mà còn liên tiếp bốn ngày gửi thiếp cầu kiến.”
Chuyện này Khúc Du hình như cũng có nghe qua, đáp: “Hai người này biện chính với tứ phu tử ở điện Huyền Đức, chuyện được truyền tụng khắp phố phường ngõ ngách, hẳn là có chân tài thực học.”
“Mấy ngày trước, con gái của Phó chấp chính còn đánh rơi trâm cài tóc vào lòng vị Trạng Nguyên lang này của chúng ta nữa đấy.” Cao Vân Nguyệt bĩu môi: “Phó chấp chính và Cố tướng có tình đồng môn, người này vốn là đệ tử của Cố tướng, nếu lại có thể cưới được con gái của Chấp chính thì đó thật sự là một bước lên mây rồi.”
Nói đến đây, Khúc Du khẽ cau mày.
Con gái của Phó Khánh Niên là Phó Minh Nhiễm, nàng và Cao Vân Nguyệt cũng từng tiếp xúc vài lần, Phó Minh Nhiễm ít lời nhưng kiêu ngạo, có nhiều tâm kế, hai người họ chẳng có chút thiện cảm nào với nàng ta.
Nghĩ đến vị Trạng Nguyên lang dưới lầu có khả năng sẽ cầu thân với Phó Minh Nhiễm, Khúc Du bỗng nhiên mất đi hứng thú, vừa lúc nàng đang nói chuyện với Cao Vân Nguyệt, chàng đã cưỡi ngựa qua Phàn Lâu, chỉ để lại trong tầm mắt nàng một bóng lưng xa cách.
Chẳng biết có phải cùng một cơn gió vừa thổi toang cánh cửa sổ hay không, ngay lúc ấy, một đóa hoa hạnh vương trên cửa sổ của Khúc Du đột nhiên bị gió thổi rụng.
Đó vốn là đóa hoa nở đẹp nhất trong số đó, cứ thế chao lượn bay khỏi cành, rồi lại rơi trúng lên chiếc phát quan cài tóc của nam tử kia, sau đó trượt xuống bên tai chàng.
Nam tử hơi khựng lại, theo bản năng đưa tay ra đón, đóa hoa hạnh phớt hồng liền rơi vào lòng bàn tay chàng. Chàng khẽ ghìm cương ngựa, quay đầu nhìn lại một cái.
Thế là Khúc Du đã nhìn rõ dung mạo của vị Trạng Nguyên lang ấy.
Chỉ một ánh nhìn, nàng cảm thấy xung quanh vang lên những tiếng reo hò ồn ã, chàng cúi đầu xuống nhìn đóa hoa, rồi lại ngước lên, màu mắt chàng dưới ánh dương có vẻ hơi nhạt. Giữa dòng người tấp nập trên phố, mảng cổ áo màu đỏ kia rực rỡ đến mức không hợp lẽ.
“Du Du—” Không biết Cao Vân Nguyệt đã gọi bao nhiêu tiếng, nàng chợt tỉnh khỏi trạng thái gần như xuất thần, nghe thấy tiếng tán thưởng và vỗ tay trên lầu gác.
Gò má nàng hơi nóng, vội vàng đóng cửa sổ lại, chiếc chuông vàng nơi góc mái hiên bị gió lay động reo lên đinh đang.
Cao Vân Nguyệt có chút kinh ngạc, lại tỏ vẻ tiếc nuối: “Cô đóng cửa sổ làm gì, ta còn muốn nhìn thêm vài lần nữa cơ mà.”
Khúc Du cố tình lấp l**m: “Quá, quá ồn ào rồi.”
Cao Vân Nguyệt lườm nàng một cái, mở cửa sổ ra lần nữa, nhưng thấy cả đoàn người đã quay lưng rời đi, không khỏi tức giận: “Đều tại cô, mau nói cho ta biết, vị Trạng Nguyên lang ấy trông như thế nào?”
Khúc Du chống tay thất thần, vô thức lẩm nhẩm một câu. “Vạt áo lụa bay nghênh đón gió xuân, ngọc khắc kỳ lân thắt lưng đỏ thắm… Chàng, quả thật là xuất chúng.”
—
Một đóa hoa chợt rơi xuống lòng bàn tay, Châu Đàn ghìm cương ngựa, quay đầu nhìn lại phía sau.
Phàn Lâu mỗi khi có khách, bảng tên nhã gian sẽ được treo trên góc mái hiên, gió thổi qua, vô số thẻ gỗ cùng chuông vàng khắp lầu phát ra thanh âm kỳ diệu, vui tai.
Hôm nay để chúc mừng các học tử khoa cử qua phố, trên lầu còn treo vài dải lụa đỏ dài, chúng đang thuận theo gió mà bay lượn phóng túng, duyên dáng. Sự phồn hoa của toàn kinh đô dường như đều hội tụ tại nơi đây.
Có các cô nương lấy quạt che mặt, lén lút đưa mắt nhìn, có văn nhân thi sĩ ánh mắt đầy tán thưởng hoặc ngưỡng mộ, có thương nhân gánh kẹo hồ lô, đội hàng rong gánh gánh qua phố, có thường dân áo vải trâm cài, ngước nhìn với vẻ sùng kính, ngưỡng mộ.
Trong số vô vàn người rực rỡ ấy, chàng vừa nhìn đã thấy ngay chủ nhân của đóa hoa hạnh kia.
Châu Đàn thời niên thiếu mười bốn, mười lăm tuổi, khi song thân còn chưa gặp biến cố, chàng cũng từng có một thời nông nổi.
Một giấc mộng Giang Nam, một trời xuân phương bắc, chàng thiếu niên phóng ngựa qua phố từng thấy bao tuyệt sắc trong chốn lầu son gác tía, nhưng chỉ một cái nhìn này lại khiến chàng chợt sững sờ.
Tầng hai Phàm Lâu, sau cành hoa hạnh, chàng thấy chủ nhân của đóa hoa kia cũng đang ngẩn ngơ nhìn lại chàng, nàng vận y phục khuê các nữ nhi, nhưng lại ít đeo trang sức vàng bạc, trên đầu toàn là những đóa hoa tươi màu phấn trắng, trâm ngọc trắng nhạt, điểm xuyết bằng hạt lưu ly màu nhạt khiến những màu vốn có phần tục tĩu lại trở nên thanh lệ thoát tục, cốt cách thần thái tựa làn nước thu.
Trong lòng lay động khôn nguôi, chàng chợt nhớ đến câu thơ: “Tạc nhật loạn sơn hôn, lai thời y đái vân.” (Núi non hỗn loạn mờ mịt hôm qua, khi đến mây quấn quanh vạt áo).
May mắn thay, cô nương ấy vội vàng đóng cửa sổ lại, khiến chàng không chìm đắm quá lâu trong sự hồn xiêu phách lạc đó.
Cố Chi Ngôn thuận theo ánh mắt của Châu Đàn nhìn thêm vài lần, khi dời tầm mắt về, trong mắt mang theo vài phần ý cười: “Tiêu Bạch?”
Châu Đàn quay đầu lại, gắng sức quên đi sự chấn động vừa rồi: “Không có gì. Không có gì đâu, chúng ta đi thôi ạ.”
Cố Chi Ngôn rũ mắt đáp lời, nhưng lại liếc nhìn thêm một lần tấm biển gỗ trên mái hiên đó.
— Khánh Xuân Trạch.
Bên bờ sông Biện đối diện Phàn Lâu bày la liệt đủ loại sạp hàng nhỏ, người bán đồ gỗ chạm khắc thấy chàng Trạng Nguyên lang cưỡi ngựa qua phố quay đầu nhìn lại, ánh mắt đầy vẻ ngưỡng mộ: “Quả là nhân vật phi phàm, ước gì con trai ta chịu khó học hành, có thể được một nửa cái tiền đồ của người ta thì tốt biết mấy.”
Nói rồi ông mới nhận ra vị khách đối diện mãi chưa lên tiếng, không khỏi cười gọi một tiếng: “Khách quan? Đừng nhìn nữa, đi xa rồi.”
Bách Ảnh chậm rãi x** n*n món đồ gỗ chạm khắc trong tay, rồi quay đầu lại, vẻ mặt ôn tồn nhã nhặn: “Phải, quả là nhân vật phi phàm.”
Hắn cúi đầu nhìn, thấy món đồ gỗ đang x** n*n bên tay là hình một đóa hoa hạnh bèn mở túi tiền, tiện tay lấy vài miếng bạc vụn đưa cho người bán hàng.
Người bán hàng vội vàng từ chối: “Khách quan không cần đâu, đưa nhiều quá rồi.”
Nhưng Bách Ảnh lại nhất quyết để lại mấy miếng bạc vụn đó rồi xoay người rời đi.
Hắn đi lững thững dưới tấm biển đề chữ Khánh Xuân Trạch kia, rồi sang tiệm mì đối diện ăn một bát mì nước trong, cho đến khi hai nữ tử rủ nhau rời khỏi nhã gian đó lên xe ngựa của mỗi nhà ở cổng Phàn Lâu.
Mặt trời đã ngả về tây, dù chỉ ăn bát mì nước trong, Bách Ảnh vẫn rút khăn tay lau khóe miệng dính chút dầu mỡ. Hắn thong thả trở về tiểu viện, vừa bước vào cửa đã thấy ông lão râu trắng khoác hành lý, đang nằm ngửa hết sức thư thái trong sân ngắm hoàng hôn.
Hắn không hề kinh ngạc, chỉ lặng lẽ bước tới, ngồi xuống bên cạnh ông.
Quyết Minh Tử ngửa cổ, hết sức tùy ý hỏi một câu: “Ngươi đã nghĩ kỹ chưa?”
Bách Ảnh bật cười: “Không phải đã nghĩ kỹ từ rất nhiều năm trước rồi sao, vẫn là sư phụ dẫn con đi gặp cữu cữu, từ lúc đó… hình như đã không còn đường quay lại nữa rồi.”
“Tên tiểu tử nhà ngươi…”
Quyết Minh Tử thở dài thật mạnh, nhưng không nói tiếp.
Một lúc sau, ông chợt nhảy xuống khỏi thân cây gỗ đang tựa vào, cất bước đi ra ngoài, Bách Ảnh không đứng dậy, tiếp tục ngồi đó nhìn mặt trời sắp lặn xuống đường chân trời.
Quyết Minh Tử đẩy cửa ra nói: “Sư phụ còn rất nhiều nơi phải đi… Chuyến đi này năm dài tháng rộng, ngươi tự bảo trọng.”
Bách Ảnh ném đóa hoa hạnh chạm khắc trong tay qua, Quyết Minh Tử chụp lấy, nghe hắn khẽ hỏi: “Con còn có thể gặp lại sư phụ không?”
Mây trôi như lửa đốt.
Quyết Minh Tử đáp: “Đại khái là không gặp lại được nữa, nếu ngươi có việc tìm ta, cứ gửi kèm một vị ‘vương Bất Lưu Hành’* trong thư, chim bồ câu của ta sẽ mang đến cho ta.”
*Vương Bất Lưu Hành là tên một loại thảo dược truyền thống trong y học cổ truyền Trung Quốc. Loại hạt này giúp cho khí huyết lưu thông, không bị ứ trệ, vận hành thông suốt.
Bách Ảnh liền cười đáp: “Được ạ.”
Cánh cổng nhỏ của tiểu viện vẫn mở hé, trống không, yên tĩnh như lúc ban đầu.
Ánh hoàng hôn hoàn toàn nặng nề lụi tắt, mùa xuân đến đây kết thúc.
02. Tích Hoa Đọa
Trong Chiêm Đài phủ, mỗi khi tổ chức Quỳnh Lâm Dạ Yến, hoa tươi trong vườn đều được bày biện chật kín, ao nước tĩnh lặng trong phủ có thể phản chiếu đủ loại bóng hoa.
Châu Đàn ngồi bên Cố Chi Ngôn, có chút thất thần, mãi cho đến khi Cố Chi Ngôn gọi mấy tiếng “Tiêu Bạch” mới hoàn hồn.
“Lão sư.”
Vừa nãy, Tô Triều Từ tiến đến bắt chuyện với chàng, chàng nhất thời hứng khởi, uống thêm vài chén, tửu lượng không tốt, giờ thấy đầu óc có chút choáng váng.
Cố Chi Ngôn nhìn khắp lượt sĩ tử trong sảnh, râu tóc khẽ bay, cười hỏi: “Hôm nay là ngày vui của chư vị, điện hạ cũng ngự giá tại đây, thần xin mạn phép thay điện hạ hỏi một câu, chư vị sinh ra trên đời, cầu mong điều gì?”
Khắp nơi trong tiệc rượu rộn ràng, lời lẽ vang vọng tứ tung.
Châu Đàn buộc mình phải tỉnh táo, vừa vặn thấy Tô Triều Từ ngồi đối diện chàng đang nâng chén rượu, xúc động đến mức mặt hơi đỏ: “Học trò… muốn làm nên sự nghiệp lớn như các bậc hiền triết, trở thành người lưu danh sử sách!”
Hắn giơ tay uống cạn, mọi người đồng loạt tán thưởng.
Cuối cùng cũng đến lượt chàng, tên chạy vặt một bên rót đầy rượu vào chén của chàng, đây là Trạng Nguyên Hồng, rượu ủ lâu năm, trong dạ yến có rất ít người được uống, mũi chàng khẽ động, ngửi thấy hương thơm nồng nàn của rượu.
Cố Chi Ngôn ngồi ngay ngắn, ánh mắt điềm đạm nhìn chàng, giữa sự ồn ào hỗn tạp, Châu Đàn dường như chỉ nghe thấy giọng nói của chính mình: “Nguyện vọng của học trò phàm tục mà giản đơn, tiền bối đã nói vô số lần… chẳng qua chỉ là: ‘Vì trời đất lập tâm, vì dân sinh lập mệnh…’”
“Kế thừa tuyệt học của các thánh nhân đã mất, mưu cầu mở ra thời đại thái bình… cho vạn thế!”
Chàng uống cạn, nụ cười trên gương mặt Thái tử ở vị trí cao nhất lại thoáng cứng lại.
Phó Khánh Niên liếc mắt nhìn sang Cố Chi Ngôn, Cố Chi Ngôn mỉm cười không nói, Cao Tắc cân nhắc chiếc chén rượu trong tay, lộ ra một nụ cười hàm chứa ý tứ khó dò.
Không khí trong tiệc rượu bỗng chốc ngưng đọng lại.
Tô Triều Từ mặt đỏ bừng, dường như hổ thẹn vô cùng, lắp bắp hồi lâu không nói nên lời, vẫn là Lạc Kinh Luân bên cạnh mở lời trước: “Sĩ tử trẻ tuổi, lòng dạ chân thành, đáng kính đáng khen thay…”
Nói xong câu này, tiếng cười mới lại vang lên.
“Khiến ta nhớ lại năm xưa mới vào triều, ta cũng từng có tấm lòng chân chất, ngây thơ như thế…”
Châu Đàn ngồi tại chỗ, có chút không hiểu vì sao mọi người lại cười.
Hoàng thái tử khoác gấm bào màu vàng nhạt, giữa đám đông người vây quanh, nâng chén rượu kính chàng từ xa, sau đó tự mình uống cạn.
Chàng nhớ lại trước khi dạ yến bắt đầu, chàng đi ngang qua ao nước tĩnh lặng, thưởng hoa trên hành lang dài, Tống Thế Diễm không mang theo tùy tùng, không hỏi chàng là ai, liền tự mình rót rượu đối ẩm, giọt rượu bắn lên cánh hoa tường vi.
Tống Thế Diễm nói: “Cô và khanh vừa gặp như đã quen.”
Hắn xoay người bỏ đi, tiện tay ngắt đóa tường vi đó, tùy ý ném xuống đất, Châu Đàn muốn mở lời ngăn cản, cuối cùng vẫn trầm mặc.
Hắn đến thưởng hoa, nhưng lại không có lòng thương tiếc hoa.
Cái gọi là “vừa gặp như đã quen” đại khái cũng chỉ là lời thoái thác mà thôi.
Cố Chi Ngôn dẫn chàng rời đi, chàng không có cơ hội nhặt đóa tường vi cô độc kia.
Dạ yến hoa nở đầy vườn, ánh sáng trầm rọi xuống trên mặt nước tĩnh lặng.
Chàng đơn độc ngồi trong đó, lại giống như một người ngoài cuộc.
Yến tiệc gần đến lúc cao trào, chợt có người đề nghị mọi người làm thơ, các học tử vui vẻ đồng ý, vung bút mực trên một tấm giấy Tuyên Thành lớn như chiếu, Tô Triều Từ nhét bút ngọc vào tay chàng, làm rơi một giọt mực lên giấy tuyên thành.
Mười năm mộng Giang Nam, một sớm thành Trạng Nguyên.
Cái chết của song thân, gánh nặng thân thế, lý tưởng mong manh, con đường phía trước hư ảo, đè nặng trĩu trên vai người thiếu niên.
Thế là chàng nhấc bút viết một đoạn.
“Trời xanh mưa tạnh chốn nhân gian, Sóng dâng biếc phủ, lỡ lầm tràn. ... Ngựa hí xuân phong sai nhịp bước, Nhành hoa bị bẻ đêm dạ yến... Thương hoa rơi rụng, lòng ủ ê.” — Tít dịch thơ.Sau khi dạ yến tại Chiêm Đài phủ kết thúc, Cố Chi Ngôn vỗ vai chàng, thở dài liền mấy hơi, nhưng không nói gì cả.
Tô Triều Từ say đến bất tỉnh nhân sự, khóc lóc thảm thiết trước mặt chàng, người khác không hiểu hắn khóc vì điều gì, Châu Đàn lại có chút bất lực, an ủi vài câu, gọi người hầu đi theo của hắn đến, dìu người về.
Chàng dừng lại rất lâu, khi mọi người gần như đã đi hết mới một mình bước qua hành lang dài, định để mình tỉnh rượu một chút rồi mới hồi phủ.
Sau đó, chàng nhìn thấy đóa hoa bị Thái tử tiện tay ngắt trước bữa tiệc, đóa tường vi đã tàn tạ tan nát, không còn hình dạng gì, trên cánh hoa màu hồng phấn còn sót lại vết giày dơ bẩn.
Châu Đàn nhặt đóa hoa ấy lên, đi qua hành lang, nhẹ nhàng đặt vào ao nước tĩnh lặng, dòng nước cuốn đi mọi vết bẩn, trôi về cõi sâu thẳm, cũng coi như một nơi trở về tốt đẹp.
Hoa chìm xuống mặt nước, chàng lại chợt nhớ đến cái nhìn ngoảnh lại khi đi ngang qua Phàn Lâu hôm nay. Đoá hoa hạnh rơi vào tay chàng đến giờ vẫn được cẩn thận cất trong tay áo rộng, trầm tĩnh thổn thức nơi gần trái tim.
Châu Đàn thất thần nhìn chằm chằm mặt nước, gợn sóng do hoa rơi lúc nãy đã biến mất hoàn toàn, in lại hình ảnh vầng trăng cô độc thanh khiết trên trời.
Chàng vốn muốn ngắm nhìn thêm một lúc, nào ngờ gió đêm chợt nổi lên, thổi cánh hoa hạnh trong vườn rụng xuống lả tả, lại rơi vào trong ao, tựa như mưa bụi bay đến.
Đêm thanh tĩnh lặng, không còn một bóng người nào đến nữa.
03. Giấc mộng ngàn năm
Khi Cố Chi Ngôn được lặng lẽ mời vào chỗ, Thời Hoa Yến đang đương lúc cao trào.
Lúc bấy giờ Cao Tắc vẫn là Thiếu sư của Thái tử, chưa hề can dự dính dáng vào đảng tranh bè phái. Vì đã gửi thiếp mời nên Cố Chi Ngôn cũng đến, chỉ là hơi muộn một chút.
Khánh Xuân Trạch, hình như là tên nhã gian riêng của con gái lớn Cao Tắc tại Phàn Lâu.
Ông thầm nghĩ, tùy ý ngồi xuống. Cao Tắc thêm trà, giọng thăm dò: “Nghe nói Cố lão muốn cầu thân cho học trò?”
Cố Chi Ngôn liếc nhìn ông ta một cái, cười nói: “Thiếu sư có ý sao?”
Cao Tắc bèn đáp: “Điện hạ cưới người bên mẫu tộc thân thích, ấy là một mối hôn sự tốt đẹp. Ta chỉ muốn tìm cho con gái nhỏ một người đáng tin cậy để gửi gắm cả đời.”
Cố Chi Ngôn nhấc chén trà lên, thản nhiên nói: “Đã là học trò của ta, e rằng không xứng với mối hôn sự cao quý như vậy… Bệ hạ sẽ không yên tâm.”
Ông chỉ nói đơn giản một câu, Cao Tắc liền hiểu ngay ý tứ.
Cố Chi Ngôn vì để tránh sự nghi kỵ của đế vương, cả đời không cưới thê. Giờ đây, khắp triều đình và dân chúng đều khen ngợi ông đối xử với Châu Đàn cực kỳ tốt, hệt như con ruột. Tiếng tăm lẫy lừng như vậy, nếu cưới con gái nhà Thiếu sư của Thái tử, dù cả hai bên không có ý gì, thì cái mũ lớn ‘kết bè kéo phái’ cũng sẽ chụp lên đầu một cách vững chắc.
Cố Chi Ngôn cả đời ghét nhất bè phái tranh giành, tuyệt đối không làm điều gì đặt mình dưới bức tường nguy hiểm.
Thế nên Cao Tắc không nói thêm lời nào nữa.
Trên yến tiệc, Cao Vân Nguyệt đang cùng Khúc Du hứng thú làm thơ nối.
Niềm vui làm thơ nối này vốn do Gia Phúc Quận chúa đề xướng trong bữa tiệc, có lẽ ý ban đầu là để bản thân mình nổi bật, nhưng kết quả nối đến cuối cùng vẫn chỉ còn lại hai người là Khúc Du và Cao Vân Nguyệt.
Bởi lẽ hai người kết duyên chính vì tình bạn thơ ca nên rất tâm đầu ý hợp.
Cố Chi Ngôn cách tấm bình phong lắng nghe rất lâu, cho đến khi con gái của Khúc gia sau khi kết thúc việc nối thơ, thuận miệng ngâm một câu: “Hoa trôi trước thềm theo dòng chảy, trời đất nhân gian đều không hay.”
“Hay!”
Uống cạn chén trà, ông hỏi Cao Tắc: “Nữ tử thân thiết với con gái lớn nhà ông là con gái nhà ai thế?”
Cao Tắc đáp: “Là con gái nhà Sử quan họ Khúc, tiểu cô nương phẩm cách thanh cao minh khiết, rất hợp ý với tiểu nữ nhà ta.”
Cố Chi Ngôn tiện tay cầm lấy một đĩa bánh mật ong trên bàn, dặn dò tiểu đồng bên cạnh mang đi: “Mang sang đó cho Khúc cô nương đi, mời con bé đến hậu viên gặp ta một lát.”
Cao Tắc đứng bên cạnh thở dài: “Thôi vậy, thôi vậy, kinh đô nhiều nam tử tốt, nhưng thiếu nữ hiền. Thật hiếm có người lọt vào mắt Cố tướng, quả là không dễ dàng gì.”
—
Khúc Du được mời vào đình trong hậu viên, cách Cố Chi Ngôn ba bậc hành lễ: “Cố tướng.”
Tiểu đồng và thị nữ đứng bên cạnh, Cố Chi Ngôn cũng không tiến lên, chỉ nhặt một phiến đá kê ngồi xuống trước đình: “Khúc cô nương là con gái nhà Sử quan?”
Khúc Du thường nghe phụ thân mình khen ngợi Cố Chi Ngôn ở nhà, không biết đối phương mời mình đến đây có ý đồ gì, nhưng nàng hoàn toàn không kiêu căng, chỉ đáp nhẹ nhàng một câu: “Vâng.”
Ý cười trong mắt Cố Chi Ngôn càng đậm hơn: “Ta quen phụ thân con, hẳn là một quan thần thanh liêm. Nếu đã xuất thân từ nhà Sử quan, vậy ta hỏi con một câu…”
Ý nghĩ của ông chợt bay bổng, buột miệng hỏi một câu mà mấy hôm trước ông từng hỏi Châu Đàn: “Con muốn trở thành người bị lịch sử cuốn theo, hay là người viết nên lịch sử?”
Cố Chi Ngôn cũng quen biết Tiêu Việt, thậm chí từng cùng ông và Tống Sưởng uống rượu kết bằng hữu. Lần đầu tiên tình cờ gặp Châu Đàn, ông đã nhận ra những dấu hiệu khác thường.
Sau đó ông đã điều tra ra chân tướng cái chết của Tiêu Việt năm xưa cho Châu Đàn.
Đế vương vốn đa nghi, bề tôi trung thành, dường như không ai phạm sai lầm, chỉ là một khoảnh khắc do dự đã gây ra hậu quả như vậy. Ông gần như không đành lòng nói ra kết quả này, càng không biết đối phương sẽ phản ứng ra sao.
Kết quả Châu Đàn chỉ rất bình tĩnh quỳ trước mặt ông, cúi đầu lạy thật sâu.
“Thực ra… học trò cũng chỉ muốn biết tâm ý của bệ hạ, muốn biết bệ hạ có thật sự thấy chết mà không cứu, liệu Chấp chính có thật sự cố ý hãm hại hay không. Bắt bóng bắt gió, tâm thuật của đế vương… đều là những thứ đã được viết nhan nhản trong sử sách rồi. Phụ thân vẫn còn danh tiếng lưu lại đời sau, bệ hạ… đại khái cũng đã hối hận rồi chăng.”
Cố Chi Ngôn không ngờ chàng lại nói ra những lời như vậy: “Tiêu Bạch…”
“Thưa lão sư…” Châu Đàn ngẩng đầu lên, nước mắt lưng tròng, nhưng chậm rãi chưa rơi: “Hiện giờ bốn phương yên bình, triều đình ổn định, bệ hạ có thể lắng nghe lời can gián, chăm lo trị nước, đây chẳng phải… là ước nguyện của phụ thân hay sao? Lão sư đã dốc hết tâm huyết cả đời để kiềm chế bè phái đảng tranh, khó khăn lắm mới khiến triều ta gió yên biển lặng, trên dưới đồng lòng, học trò… không muốn chỉ vì những thứ hư vô mà hủy hoại tất cả.”
Chàng lại phủ phục xuống: “Người bỏ ta đi… Ngày hôm qua không thể giữ lại. Học trò nếu có được một nửa sự vĩ đại của lão sư, mưu cầu được nửa phần phúc lợi cho thiên hạ thì không uổng phí một đời này.”
Cố Chi Ngôn hiểu ý Châu Đàn.
Nỗi chấp niệm chàng theo đuổi đến kinh đô, chẳng qua chỉ muốn biết chân tướng năm xưa. Chỉ cần biết hoàng đế vẫn còn chút tình cũ với Tiêu Việt, năm đó không phải là cố ý, thế đã là đủ rồi.
Chàng muốn vì trời đất lập tâm, vì dân sinh lập mệnh, không thể phá vỡ sự yên bình mà ông đã khó khăn duy trì suốt bao năm.
Ngực Cố Chi Ngôn hơi nhói, đưa tay đỡ chàng đứng dậy, run giọng gọi: “Tiêu Bạch…”
Tiêu Bạch à.
Bạch Tiều có thể nuôi dạy được đứa trẻ như vậy, chắc hẳn Tiêu Việt có linh thiêng trên trời cũng sẽ rất đỗi an ủi.
Ông cùng học trò say rượu, uống đến nửa đêm. Châu Đàn cáo từ ra về, trước khi đi, Cố Chi Ngôn kéo góc áo chàng, hỏi một câu: “Tiêu Bạch… Con muốn làm người viết nên lịch sử, hay người bị lịch sử cuốn theo?”
Châu Đàn loạng choạng đi được vài bước, nói một câu gì đó, giọng nói bị tan biến trong gió đêm, hòa lẫn vào hơi rượu, gió thổi qua liền quên mất.
Câu nói ấy dần dần vọng lại, trùng khớp một cách kỳ diệu với lời của nữ tử trước mặt.
Khúc Du đứng cực kỳ giữ lễ trước cột đình, nghe vậy vô cùng khó hiểu hỏi ngược lại: “Cố tướng vì sao lại hỏi câu này?”
“… Người viết nên lịch sử, chẳng lẽ lại không bị lịch sử cuốn theo hay sao?”
Khúc Du không có cơ hội biết được vì sao Cố Chi Ngôn lại hỏi nàng câu hỏi đó.
Án Nhiên Chúc tại Biện Đô nổ ra, lòng người hoang mang. Nghe nói môn sinh, cố hữu của Cố tướng đều bị bắt vào ngục.
Phụ thân nàng vì có tư giao cùng tu sửa sử với Cố Tướng nên bị liên lụy vào đại lao Hình Bộ.
Mẫu thân nàng sức khỏe không tốt, đổ bệnh một trận, gánh nặng gia môn đột nhiên đè lên vai nàng.
Cao Vân Nguyệt lén lút gửi đến cho nàng một khoản tiền phòng thân, trong thư viết nguệch ngoạc rằng nàng ấy vốn muốn đích thân đến thăm hỏi, nhưng Cao Tắc vô cùng cảnh giác, ra lệnh nàng ấy không được ra khỏi phủ trong suốt thời gian này.
Khúc Du dần nhận ra việc quán xuyến mọi việc lớn nhỏ trong phủ cũng không phải là quá khó khăn.
Chỉ có một điều, sau khi phụ thân vào ngục, nàng bắt đầu đêm đêm nằm mơ, những giấc mộng không liền mạch, chỉ là những lời nói rời rạc, khiến người ta kinh ngạc.
Nàng nằm mơ thấy mình khóc lóc thảm thiết dưới gốc cây buộc đầy dải lụa đỏ, mơ thấy mình dùng tay không đào ngôi mộ của một người khác giữa thanh thiên bạch nhật, rồi tự tay chôn vùi chính mình.
Nàng mơ thấy sa mạc tuyết rơi dày đặc, tường thành màu đen cao ngất đến mức dường như cả đời không thể vượt qua. Nàng tham luyến ánh dương, nhắm mắt lại trong mùi tĩnh thủy hương, rồi không bao giờ tỉnh lại nữa.
Nàng còn mơ thấy một người nam tử mặc bạch y không nhìn rõ gương mặt, chỉ loáng thoáng nhớ vạt áo chàng có thêu cành lá trúc.
Nàng đã cãi nhau rất dữ dội với người tưởng chừng ôn nhu này.
— Nhưng thiếp… thiếp nguyện ý cùng chàng mục rữa trên trang thanh sử!
— Ta không đồng ý!
Khúc Du bị những giấc mơ không đầu không cuối này giày vò đến mức tinh thần bất an. Việc trong phủ quá nhiều, không có cơ hội đến chùa Tụ Thanh để giải đáp. Nàng đem chuyện kể cho đệ đệ là Khúc Hướng Văn, Khúc Hướng Văn nghe xong cũng bối rối, về nhà liên tục đọc sách Kinh Dịch và Trang Tử trong hai ngày.
Đọc những thứ này thì có ích gì, chẳng lẽ… Trang Chu biết rõ vì sao mình hóa bướm sao?
Khúc Du vẫn còn nhớ rõ ngày nàng rơi xuống nước là một ngày mưa.
Đại để là mộng du, người nam tử bạch y ấy xuyên qua giấc mộng của nàng đi vào hiện thực. Nàng nghe thấy tiếng ngón tay khảy dây đàn, khúc nhạc dường như là Kim Lũ Khúc mà cũng như là Đoản Thanh.
Nàng đuổi theo cái bóng đó, đi thẳng đến hồ nước phía sau vườn. Mặt hồ phủ màn sương dày đặc.
Chưa kịp nhìn rõ gương mặt người đó, nàng đã mất thăng bằng, bất chợt rơi xuống nước.
Gió thổi làm lật trang sách Trang Tử chưa đọc xong bên cửa sổ.
Ngàn năm đời người rong ruổi, bay bổng giữa khoảng không bao la. Chỉ có tình si chẳng buông, vẫn mãi đắm say chẳng nhòa.
Khúc Du đột ngột tỉnh dậy trên giường, tóc vẫn đang nhỏ nước tong tong. Mấy đệ muội thấy nàng tỉnh lại thì òa khóc nức nở.
“Đại tỷ tỷ, cuối cùng tỷ cũng tỉnh rồi, dọa đệ sợ chết khiếp…”
“Tỷ đã hôn mê lâu lắm rồi.”
“… Có cần mời đại phu đến khám lại không?”
Lần này, nàng không phải đang nằm mơ.
Khúc Du ngơ ngẩn nhìn bàn tay mình, khoảnh khắc trước, bàn tay này dường như vẫn còn đang chạm vào chiếc hạc sưởng lạnh lẽo trong đêm đông giá rét.
Ánh mắt nàng chuyển sang cuốn cổ thư đang mở bên cạnh, rồi nhìn ra khung cảnh mờ mịt sương khói bao phủ ngoài cửa sổ.